Siddhartha

Siddhartha – tác phẩm nổi tiếng của nhà văn người Đức đoạt giải Nobel, Hermann Hesse, là một tiểu thuyết tương đối ngắn. Có thể coi nó là dạng tiểu thuyết chủ yếu tập trung diễn giải một tư tưởng nhất định, trong trường hợp này là triết lý đạo Phật, cũng như The Stranger của Camus nói về chủ nghĩa phi lý.

Vì đã từng đọc về cuộc đời đức Phật rồi, nên tôi nhận ra ngay con đường của nhân vật chính Siddhartha. Nó có nhiều điểm tương đồng : một thanh niên sáng láng thông minh sinh ra trong một gia đình thuộc tầng lớp thượng lưu. Anh có khát khao cháy bỏng về cuộc sống tinh thần, ham học hỏi và không lâu sau đó, bỏ nhà đi tu. Cũng giống như đức Phật Thích Ca, đầu tiên anh tìm đến sự chỉ dạy của những giáo phái tu khổ hạnh thời đó, sa môn. Từ bỏ và khinh thường mọi thứ tiện nghi, vật chất, anh tìm đến sự giác ngộ qua sự hành xác, rồi bởi anh là một người thông minh, anh sớm nhận thấy sự vô ích của quá trình đó.

Từ điểm này, Hesse bắt đầu xây dựng cuộc đời của Siddhartha khác đi so với đức Phật. Phật Thích Ca tự giác ngộ dưới một cây bồ đề, uống sữa dê của một cô gái nông thôn đưa cho trong con mắt khinh thường của các nhà tu khác, rồi rời bỏ sa môn, xây dựng lấy tôn giáo của mình. Siddhartha không được như thế. Anh chỉ dứt bỏ được sa môn khi nghe danh đức Phật, đi gặp ngài và nhận ra ngài đã đạt đến cảnh giới toàn thiện toàn mỹ. Nhưng Siddhartha không gia nhập giáo đoàn của đức Phật. Anh cho rằng sự giác ngộ mà đức Phật có được và những lời giảng kinh là hai chuyện hoàn toàn khác nhau. Đức Phật có được sự giác ngộ không có nghĩa là ngài có thể truyền được sự giác ngộ ấy cho các đệ tử qua ngôn từ. Vì thế tuy rất khâm phục ngài, Siddhartha vẫn bỏ đi, tìm lấy con đường riêng cho mình. Anh vứt bỏ vẻ ngoài tơi tả của một sa môn, khám phá các dục vọng : nghệ thuật làm tình, nghệ thuật buôn bán, anh hưởng lạc, theo đuổi vật chất, sự giàu có, tài sản đất đai. Tất cả đều rất đáng để tận hưởng và dấn thân. Thời gian trôi đi, các dục vọng trở nên cùn mòn, không còn tươi mới, nó bắt đầu làm anh suy đồi. Cuộc sống thừa mứa hưởng thụ làm những gì tốt đẹp nhất nơi anh chết dần chết mòn, đến nỗi anh không còn cả suy nghĩ nữa, tự hủy hoại bản thân, ngày càng trác táng. Cho đến một ngày cái con người bên trong của anh đã chịu đựng đến mức giới hạn, nó lên tiếng và kéo anh bỏ nhà đến một dòng sông, cho anh thấy bộ mặt trụy lạc của anh khi anh soi xuống mặt nước. Anh kinh tởm bộ mặt đó, và định tự tử. Tuy thế, Siddhartha quá thông minh để là một kẻ tự tử, anh biết chuyện đó chả giải quyết được gì. Anh dừng lại kịp và vứt bỏ quá khứ lại đằng sau, để tâm hồn mình tái sinh bên cạnh dòng sông, bắt đầu một quá trình học hỏi mới.

Anh đến xin làm phụ giúp cho người lái đò trên sông, học từ ông cách lắng nghe dòng sông trò chuyện. Anh ở cạnh thiên nhiên, dần hiểu tất thảy mọi sự trên thế gian này chỉ là một. Sinh và tử, yêu thương và hận thù, lạc thú và khổ đau, tiếng cười và tiếng khóc, tất cả đều chỉ là một cuộc đời chung, là cái vẫn được gọi là Đại Ngã. Chúng có tính không thể tách rời, không thể thay đổi. Anh học được cách không thâm nhập vào bất cứ một cái gì với Tiểu Ngã (cái tôi) của mình, và đạt đến sự an lạc. Trong thời gian này, anh chứng kiến cái chết của người tình xưa của mình, rồi nhận được đứa con. Dù đặt nhiều tình yêu vào đứa con trai, nó ghét anh và bỏ đi làm anh rất đau khổ, nhớ lại hồi xưa mình cũng đã bỏ bố mình mà đi như thế, tất cả chỉ là sự lặp lại. Những chuyện đó làm anh quay quắt, nhưng nó cũng chỉ là những cơn khổ cuối cùng trước khi anh đạt đến sự giác ngộ hoàn toàn, bình thản hoàn toàn. Sau đó anh hiểu được hoàn toàn cái Om – cái Toàn thể. Anh nhận ra trong một hòn đá cũng chứa đựng đầy đủ tất cả ý nghĩa của cuộc sống, cũng như con chim, cái cây, cũng như dòng sông. Anh hiểu Phật có ở khắp mọi nơi, trong đức Phật, trong anh, trong người lái buôn, trong cô gái điếm. Và bởi vì có vòng luân hồi nên thời gian là một ảo tưởng, ngôn từ là phiến diện, mọi sự có tính không thể diễn giải, chỉ có sự vật là thành thực. Anh yêu hòn đá, như anh yêu dòng sông, như anh yêu toàn bộ cuộc đời này.

Câu chuyện kết thúc khi Govinda – người bạn vong niên của Siddhartha muốn ông chỉ đường đến giác ngộ. Siddhartha cố thử diễn giải bằng từ ngữ, nhưng thất bại. Sau đó ông bảo bạn hãy hôn vào trán mình :

“Trong lúc Govinda sửng sốt, nhưng nghe lời vì lòng thương yêu bạn chứa chan và vì linh cảm, thầy cúi sát, đặt môi lên trán ông, thì có gì đấy thần diệu đã xảy ra với thầy. Trong lúc tâm trí thầy còn băn khoăn với những lời lẽ lạ lùng của Siddhartha, trong lúc thầy còn hoài công miễn cưỡng cố không nghĩ đến thời gian, hình dung Niết bàn với Luân hồi là một, thậm chí trong lòng thầy đang diễn ra tranh chấp giữa sự khinh mạn nào đấy về lời lẽ của người bạn với một tình thương yêu bao la và kính trọng thì điều này đã diễn ra :

Thầy không còn thấy gương mặt của người bạn Siddhartha nữa, thay vào đấy là những gương mặt khác, nhiều lắm, cả một loạt, cả một dòng sông cuồn cuộn những khuôn mặt, hàng trăm cái, hàng nghìn cái, những khuôn mặt hiện ra rồi biến đi, nhưng dường như đồng thời còn ở đó, chúng thay đổi và mới lạ không ngừng, song tất cả đều là Siddhartha. Thầy thấy mặt một con cá, một con cá chép, miệng há hốc đau đớn khôn cùng, một con cá đang giãy chết, mắt mờ dần – thầy thấy mặt một đứa trẻ mới sinh, đỏ hỏn và nhăn nheo, méo xệch vì khóc – thầy thấy mặt một kẻ sát nhân, thấy hắn thọc dao vào bụng một người – thầy thấy, cũng giây phút ấy, phạm nhân này bị trói quỳ gối, bị đao phủ vung kiếm chém phăng đầu – thầy thấy những thân thể đàn ông, đàn bà trần truồng đang trong những thế yêu đương cuồng nhiệt – thầy thấy những cái xác duỗi dài, im lìm, lạnh giá, trống trải – thầy thấy đầu những con thú, heo đực, cá sấu, voi, bò mộng, chim chóc – thấy thấy các thánh thần, thấy Krishna, thấy Agni, thầy thấy tất cả những hình dáng và gương mặt này trong ngàn mối tương quan với nhau, cái này giúp đỡ, thương yêu, ghét bỏ, hủy diệt, tái sinh cái kia, mỗi cái đều là một khát khao cái chết, mỗi cái đều là lời thú nhận cuồng nhiệt và đau đớn của sự vô thường, nhưng không cái nào chết cả, chỉ biến hóa thôi, luôn luôn tái sinh, luôn luôn có khuôn mặt mới, giữa hai khuôn mặt mới cũ ấy không hề có cách quãng – tất cả những hình hài và gương mặt này nghỉ ngơi, tuôn chảy, tự sinh hóa, bềnh bồng trôi và hòa vào nhau và trên tất cả luôn có một cái gì đó mỏng manh, hư ảo, nhưng vẫn hiện hữu, như phủ một lớp thủy tinh hay lớp băng mỏng, như một làn da trong suốt, một lớp vỏ, một lớp khuôn hay mặt nạ bằng nước và mặt nạ này mỉm cười, mặt nạ này là gương mặt tươi cười của Siddhartha, mà thầy, Govinda, mới vừa chạm môi ngay tức thì. Và, Govinda thấy thế, nụ cười này của mặt nạ, nụ cười này của sự nhất thể trên bao hình dạng tuôn chảy, nụ cười này của sự đồng thời ở hàng ngàn Sinh và Tử, nụ cười này của Siddhartha cũng chính là nụ cười trầm tĩnh, tinh tế, khôn dò, có thể độ lượng, có thể chế giễu, thông tuệ, nụ cười muôn vẻ của Đức Cồ Đàm, của Đức Phật, như thầy đã từng thấy hàng trăm lần với lòng kính ngưỡng. Như thế đấy, Govinda biết rõ, các bậc toàn thiện mỉm cười như thế đấy. ”

————

Khi còn là một thế tử, đức Phật có tên là Siddhartha Gautama. Tiểu thuyết này là một cách diễn giải của Hesse về cách hiểu đạo Phật của ông, và một cách nhìn khác về con đường giác ngộ của Phật Thích Ca. Đây là một tiểu thuyết hay, viết về triết lý nhưng dễ vào. Có lẽ tôi đã thích nó hơn nếu tôi đọc nó sớm hơn. Hesse viết quyển này vào năm 1922. Đáng tiếc tôi đã đọc khá nhiều về cách nghĩ của đạo phật trong nhiều quyển sách khác, nên những tư tưởng trong Siddhartha tôi đều đã biết cả rồi. Cũng như khi tôi đọc The Stranger (1942), tôi có cảm giác tri thức của nhân loại đã tiến thật nhanh. Nếu vào năm 1905, trên thế giới mới chỉ có vài người biết thuyết tương đối của Einstein, thì đến giờ bất cứ một sinh viên khoa vật lý nào cũng hiểu được nếu chịu khó học bài. Như tôi đây, cũng có thể chỉ ra nhưng điểm không hợp lý hoặc chưa hợp lý trong suy nghĩ của Hesse hoặc ngay chính đạo Phật.

Điều đầu tiên làm tôi không ưa khi đọc tác phẩm này, đấy chính là chủ nghĩa kinh nghiệm của Hesse. Một cách đơn giản, nó cho là một người chỉ đạt đến nhận thức về một sự vật hiện tượng khi họ trải qua sự vật hiện tượng đó. Hoặc nói cho chính xác thêm là trải qua bằng chính những giác quan của mình. Siddhartha thời thanh niên khinh thường vật chất và dục vọng một cách sách vở, phải đến tuổi trung niên, sau khi trải qua tất cả các loại suy đồi mà một người đàn ông có thể trải nghiệm, ông mới có khả năng thực sự coi khinh sự hưởng lạc. Phải đến khi tự nhiên nhận được đứa con trai, ông mới hiểu thế nào là tình yêu dành cho con cái, rồi đến khi mất nó, ông mới hiểu tình cảm của bố mình. Phải đến bên bờ vực của cái chết khi định tự tử, Siddhartha mới có thể “tái sinh” về mặt tinh thần.

Tất cả những điều này không hẳn là sai, có điều nó quá cliché, tôi đã gặp nó trong quá nhiều tác phẩm, như một sự khẳng định, bó buộc. Tôi nghĩ nó không hoàn toàn đúng. Những khuôn mẫu của chủ nghĩa kinh nghiệm thiếu độ sâu của óc phân tích và quan trọng hơn, sức tưởng tượng. Einstein đã từng nói : khả năng tưởng tượng còn quan trọng hơn tri thức. Quả vậy, đời người ngắn ngủi, nếu sự nhận thức của con người bị giới hạn bởi sự từng trải của các giác quan, thì con người sẽ có được một hiểu biết ít ỏi làm sao. Nếu thật sự phải sờ, nghe, ngửi, thấy để hiểu, thì tri thức của con người đã không vượt lên hàng triệu km ra ngoài bề mặt trái đất, vươn đến cả những vùng tăm tối nhất của vũ trụ, không đi sâu vào từng phân tử rồi từng hạt cơ bản, cái thế giới vi mô không hình dạng, nơi sự quay không có trục, rồi một hạt lại là một đám mây, nó vừa ở đây vừa ở kia, rất nhiều điều con người không thể cảm nhận được từ các giác quan. Con người bé nhỏ ở trong thế giới, nhưng thế giới cũng ở trong mỗi con người. Sức tưởng tượng làm con người trở nên vĩ đại, làm cho cái nhận thức thu được từ kinh nghiệm nhân lên hàng nghìn lần, làm cho những điều không thể thu được từ kinh nghiệm trở nên có thể.

Đức Phật chính là một phản ví dụ cho chủ nghĩa kinh nghiệm : ông không trải qua thời kỳ sa ngã vì dục vọng hoặc bất cứ cái gì tương tự. Và tôi tin là có nhiều người không cần phải đến bờ vực của cái chết mới hiểu được giá trị của cuộc sống.

Hesse nói đến một dạng nhận thức phi ngôn từ, cái này vô lý. Ông nhấn mạnh đến phong thái bên ngoài của con người như một sự chứng minh cho tình trạng viên mãn của tư tưởng, tôi cũng thấy vô lý và có vẻ hơi nông cạn. Phong thái chỉ là một thứ bề ngoài khác mà thôi, đúng, đức phật có thể có bình thản, khoan thai với nụ cười đặc trưng, hoặc ngay cả Siddhartha, nhưng đấy là vì xung quanh các ngài là một môi trường đầy tôn trọng và bình an. Bây giờ thử cho các ngài sống trong một khu ổ chuột mọi rợ xem, toàn bọn đầu trâu mặt ngựa đĩ điếm mở mồm là chửi tục xem các ngài có thể như thế được không. Mà ngay cả có giữ được phong thái như thế, thì cũng vô nghĩa. Phong thái phải chăng cũng chỉ là một dạng ngôn từ đơn giản ? Nếu phong thái khoan thai hiền triết thực sự quyết định nội tâm, thì ta đã phủ nhận những người xấu xí nhưng thông minh nhạy cảm. Hoặc những triết gia Roman thời xưa nổi tiếng với khả năng hùng biện lên bổng xuống trầm, không có nghĩa là những bài hùng biện đó có nội dung hay.

Tôi cho rằng, khả năng diễn đạt bằng ngôn ngữ không những quyết định cho tri thức, hơn thế, nó chính là tri thức. (Ngôn ngữ có thể là ngôn từ hoặc ngôn ngữ toán học, logic.)

Trong truyện có một chi tiết khá thú vị : Siddhartha yêu sự vật. Lý do cho điều này là một sự vật, trong vòng luân hồi, cũng có ý nghĩa như bất cứ sự vật nào khác, có khả năng trở thành bất cứ sự vật nào khác, nó là thật, thật như chính cái tôi, nó là một phần của cái toàn thể. Siddhartha tìm thấy ý nghĩa của bản thể trong sự vật. Điều đó làm tôi liên tưởng đến Sartre. Sartre lại kinh tởm sự vật. Ông không tìm thấy ý nghĩa gì của bản thể trong nó cả. Sở dĩ có sự khác biệt này vì đạo Phật quan niệm có Luân hồi. Sartre vô thần, tin vào khoa học, và khoa học nói rằng con người tiến hóa từ khỉ, con người có tuổi thọ trung bình khoảng 60-70 năm, trong khi tuổi của trái đất là 5 tỷ năm. Tuy cả hai kiểu tư tưởng đều khuyên con người sống tốt hơn, thuyết Luân hồi xem chừng hơi vô lý, vì tổng số sinh linh trên trái đất tăng nhanh khủng khiếp chứ không bằng hằng số.

Một số liên tưởng khác :

“God is in the rain.” – Evey, “V for Vendetta” film.
“Ta hãy là tảng đá, để mọi con sóng đời xô vào vô vọng.” – Toranaga, Shogun, novel.
“Spring, Summer, Autumn, Winter … and Spring” film.

My rain – maybe it’s because of it that I care to write about Siddhartha.

One comment

  1. Chào bạn Arral,

    Mình đã được nghe giới thiệu về cuốn Siddhartha và cất công đi tìm nó nhiều tại các nhà sách mà không thấy. Mình hiện đang tìm bản dịch từ tiếng Đức của NXB Nhã Nam. Chắc hẳn là bạn đọc bản này. Nếu vậy, mình ngỏ ý muốn mượn sách của bạn để đọc không biết có tiện không.

    Bạn không có liên lạc gì nên mình comment qua blog này. Rất tha thiết mong nhận được phản hồi của bạn.

    Cảm ơn bạn,
    Maizy
    maidtboot@gmail.com

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s