Hunters all their lives ! hay Niềm tự hào của thảo nguyên

 

I’m watching you breathing. For the last time.

Mượn lời James Blunt với nghĩa khác.

Ngựa cung. Tiếng Anh là Cavalry Archer, hoặc Mounted Archer.

Trên thảo nguyên, binh chủng này nhanh như gió, tiến lui xuất quỷ nhập thần, chính là loại binh chủng phù hợp nhất với những bình nguyên trải dài vô tận của tây á như Trung Nga, vùng Trung cận Đông, Mông Cổ hay thậm chí cả một vài nước Đông Âu. Từ những năm trước công nguyên cho đến tận thế kỷ 15-16, Ngựa cung luôn là loại quân thống trị trên các miền đất rộng. Cả về sau nữa, cái khác là cây cung bị súng trường thay thế.

Đối diện với một đạo quân lớn của kẻ địch, ví dụ những đạo quân châu Âu bao gồm quân bộ (Infantry) và các hiệp sĩ giáp nặng (Heavy Cavalry), Ngựa cung với khả năng di chuyển linh hoạt của mình sẽ có vô số thủ đoạn như nhử, kéo, móc cánh, bẫy, chia cắt đối phương. Một đối một cận chiến, Ngựa cung không phải là đối thủ của bất kỳ loại quân chủng Tây Âu nào. Một đạo quân với một đạo quân, Ngựa cung sẽ xé nát những bộ giáp di động của các hiệp sĩ.

Giống ngựa để dùng cho binh chủng này thường là ngựa châu Á, lùn, nhỏ, dai sức. Người cưỡi ngựa cũng thường không hề mặc giáp, chỉ mang theo mấy bó tên và một cây cung, cộng với một cây kiếm ngắn. Ngựa cung dẻo dai hơn hẳn ngựa của các Kỵ sĩ châu Âu với gần hai trăm kg phải mang trên mình. Ngựa cung là không thể đuổi được (uncatchable).

Một đạo quân chậm hơn Ngựa cung mà đi đấu với Ngựa cung trên một vùng đất trống là cầm chắc cái chết. Ngựa cung sẽ luôn giữ một khoảng cách nhất định để đủ an toàn, và tưới tên vào người anh. Đuổi không được, chạy không xong, một cái chết chậm rãi.

Cách duy nhất để đấu lại chiến thuật này là sử dụng một đội hình nhiều bộ cung thủ, được bảo vệ bởi lính giáo. Luôn giữ đội hình, di chuyển chậm. Nhưng trên các bình nguyên, trên các sa mạc khí hậu thường khắc nghiệt, lúc nóng thì cháy da, lúc lạnh thì vỡ đá, di chuyển chậm như thế cũng gần như tự sát.

Trên thế giới và trong lịch sử, rất nhiều đế chế đã sử dụng thành công binh chủng này. Thời La mã, có thể kể đến đế chế Seleucid và Parthian. Sau đó là Byzantine. Thời Trung cổ (1000-1600) chứng kiến đế chế Ottoman (Thổ) được xây dựng với loại ngựa cung tên Sipahi. Rồi khi Mông Cổ tràn tới làm cả châu Âu hùng mạnh run sợ thì loại binh chủng khét tiếng nhất chính là Ngựa cung Mongol Archer Cavalry hay Heavy Steppe Cavalry, hay còn có tên khác là Pride of the Steppe – niềm tự hào của thảo nguyên. Có câu vó ngựa Mông cổ đi đến đâu là cỏ ở đấy không mọc nổi. Quân Mông Cổ thời đó gần với nghĩa quân đội hơn rất nhiều so với quân châu Âu, bao gồm những hiệp sĩ hiếu thắng và cá nhân chủ nghĩa. Rất thường thấy quân Mông cổ với quân số bị áp đảo mấy lần nhưng có chiến thuật vượt trội, chạy đi chạy lại, vòng vèo mấy lần làm loạn hết đội hình quân Âu và giết chẳng chừa một ai, sưu tập tai cho vào bị.

Người ta kể lại, thời đó kỵ binh của Mông cổ là một cái gì đấy đặc biệt, nó không phải là một người lính cưỡi trên một con ngựa, hai thực thể đó đã gắn bó với nhau đến mức nhập làm một. Hợp thể Ngựa cung đó là nhân tố tạo nên nhiều trang sử oai hùng và đẫm máu trong các cuộc chiến Âu-Á.

Và hơn nữa, Ngựa cung có gì rất gần với Đại bàng. Trên thảo nguyên, chúng có sức mạnh vô địch, và tự do như cơn gió.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s