beauties of this world

Cục nước đá đến từ Mỹ latin

 

Không biết từ bao giờ, tôi đã không còn nhiều cảm giác trước cái chết. Có lẽ là bởi bản thân cuộc sống, ý nghĩa của nó đã thu giảm lại khi trình tự của nó ngày một hiện lên rõ nét, đơn giản. Đôi khi nghe tin một người họ hàng của tôi vừa mất, tôi cố nhớ lại bộ mặt và những ký ức về cô hoặc bác đó, không tìm được gì. Hoặc khi biết một người bạn học cũ tự tử, tôi không thấy quá chua xót và nghĩ rằng thôi thì dù sao sống được đến tuổi ba mươi cũng là đã hưởng thụ đến 90% những gì tốt đẹp của cuộc đời rồi. Tin Marquez mất lướt qua tai tôi như tiếng cánh cửa chớp của một ngôi nhà kiểu pháp bị gió thổi va vào khung cửa sơn màu xanh cứt ngựa, rền rĩ khe khẽ và có tác dụng ru ngủ tuyệt vời, không làm gián đoạn giấc ngủ trưa dễ chịu dưới cây quạt trần vẫn liên tục kêu lên ken két.

Gabriel Garcia Marquez đã chết. Điều đó có ý nghĩa gì ? Với tôi, hầu như nó chẳng có ý nghĩa gì cả. Các bản thảo không cháy. Marquez vẫn còn mãi. Cùng với Tình yêu thời thổ tả, Tướng quân giữa mê hồn trận, Người chết trôi đẹp nhất trần gian, Dấu máu em trên tuyết v..v… Và hơn hết thảy là Trăm năm cô đơn.

Trăm năm cô đơn. Viên ngọc đầy màu sắc của dòng văn học hiện thực huyền ảo là một sự phối hợp kỳ lạ : thực trạng bi đát của châu lục, sự đi lên của văn hoá sau vực thẳm chiến tranh của thế kỉ, sự ra đời của một thiên tài quá may mắn được lớn lên trong môi trường tốt. Một bách khoa toàn thư thật sự về nỗi cô đơn. Người ta đã nói nhiều, viết nhiều về sự vĩ đại của tác phẩm này. Vậy lần này hãy nói về một điều khác. Thật trùng hợp rằng bản thân số phận của Trăm năm cô đơn ở đất nước này (hay là cả ở nhiều nước khác ?) cũng cô đơn không kém. Nó nổi tiếng, rất được thích nhưng không được hiểu.

Trước khi tôi lật trang sách đầu tiên ra, có lẽ là hồi học cấp ba, có người nói với tôi rằng cuốn sách này “khó hiểu, toàn nói về chuyện loạn luân”. Có thật như thế không nhỉ, tôi đã tự hỏi ? Sau đó, trước khi tôi đọc dòng đầu tiên của tác phẩm, tôi đã dại dột đọc toàn bộ lời mở đầu, không rõ là của nhà xuất bản hay người dịch, nó dài cỡ hơn chục trang, nó nói rất dài dòng về “thời gian của người kể chuyện”, “thời gian phi tuyến”, “thời gian đồng hiện”. Ngoài chuyện đó ra thì nó tóm tắt tác phẩm theo kiểu học sinh cấp hai làm tập làm văn. Thú thực là đến tận ngày hôm nay tôi cũng không thể tưởng tượng nổi điều gì đã diễn ra trong đầu cái người đã viết ra những điều đó. Thật may mắn, câu chuyện Trăm năm cô đơn, trái lại, đọc rất dễ vào, không có thời gian đồng hiện mà cũng chỉ có vài chi tiết thoáng qua về chuyện loạn luân. Không có gì to tát ghê sợ cả. Lời kể chuyện thật kích thích và trơn tru, khiến người ta đọc hết dòng này đến dòng khác, lật hết trang này đến trang khác. Người ta đọc Trăm năm cô đơn rất nhanh, thấy rất thú vị và khi gập quyển sách lại, một câu hỏi nảy ra : Thế cuối cùng ông tác giả muốn nói điều gì ?

Nhiều năm sau cái lần đầu tiên “khó hiểu, toàn nói về chuyện loạn luân” đó, thật ngạc nhiên và bất ngờ, nhưng câu đó chính là review mà tôi nhận được nhiều nhất khi nói chuyện với ai đó về tác phẩm này. Mặt khác, nó được nhiều người biết đến, lại có vài người luôn nói rằng nó là sách gối đầu giường của họ, thật lạ lùng. Họ gối đầu lên một quyển sách về loạn luân ? Có thật là Trăm năm cô đơn khó hiểu đến thế, hay tôi là một kẻ có số ruồi bâu, luôn gặp phải những cái đầu bã đậu ? Càng ngày tôi càng nghiêng về khả năng thứ hai. Cùng với thời gian, số người đọc Trăm năm cô đơn mà tôi biết tăng lên, quyển sách gối đầu giường lại có lúc chuyển hoá thành quyển sách sẽ mang theo đến hoang đảo, hoặc quyển sách sẽ đọc lại nếu chỉ còn sống một ngày, và tuy họ cũng đủ thông minh để không thốt ra cái từ phản chủ “khó hiểu”, không một ai trong số đó, không-một-ai nói được một lý do lọt tai tại sao họ thích Trăm năm cô đơn. Có người nói rằng họ thích cái “không khí” trong đó, nhưng không thể diễn giải cụ thể cái “không khí” đó là cái gì ? Có người nói đọc xong, họ muốn trở thành người tốt hơn. Ôi trăm năm chicken soup for soul :) .

Tảng băng trôi của Hemingway qua tay Marquez biến thành một cái váy đầy hoa văn màu mè, nó cứ quay mãi, quay mãi đến chóng mặt trong một vũ điệu bốc lửa và đầy nhục cảm của mỹ latin. Dường như nó chơi một trò chơi của phụ nữ đẹp và thông minh, dùng cặp đùi để quay những kẻ không có óc như quay dế, khiến họ dán chặt mắt vào cặp đùi ấy và rỏ dãi lòng thòng đến độ thảm thương, không một lần ngẩng đầu lên để nhìn thấy khuôn mặt cô gái buồn rầu mà xinh đẹp tuyệt trần. Những câu văn dài như cơn gió nối đuôi nhau, cách miêu tả sinh động, lối đưa đẩy đầy bất ngờ đã khiến người ta không nhận thấy một điều thực sự quá rõ ràng : giá trị của Trăm năm cô đơn, của Kafka, hay của Người Dublin, thậm chí của Vũ Trọng Phụng, cuối cùng cũng chỉ là một mà thôi. Luôn luôn kỳ ảo, luôn luôn gián tiếp, nghệ thuật kể chuyện tuyệt vời của Marquez một mặt đã khiến nhiều người không thể hiểu được cái cốt yếu, mặt khác, một cách hơi mai mỉa, đã thu về một lượng fan kha khá những đứa (phần lớn là gái) đần độn và narcissistic, những kẻ trong suốt cả cuốn sách dày trăm trang ấy không một lần thử hiểu tình yêu và nỗi buồn của Marquez, không một lần chịu cúi đầu đọc lấy một câu, mà chỉ chăm chăm đi tìm những thứ có thể lấy ra, xào xáo làm thành son phấn cho (blog của) mình.

Không, tôi không phải là loại độc giả đặc biệt gì, tôi tin có nhiều người yêu văn học có cảm nhận giống tôi, và Trăm năm cô đơn cũng chưa bao giờ là một tác phẩm viết ra để khiến người ta khó hiểu. Tôi thấy ngược lại là đằng khác. Đây là câu đầu tiên của tác phẩm : Rất nhiều năm sau này, trước đội hành hình, đại tá Aurêlianô Buênđya đã nhớ lại buổi chiều xa xưa ấy, cái buổi chiều cha chàng dẫn chàng đi xem nước đá“. Tôi nghĩ ai cũng có thể tự đặt câu hỏi : tại sao lại đi xem nước đá ? Nước đá thì có gì mà xem ? Dân ở đây là mọi à ? Ông đại tá là ai ? Đây có phải là một câu chuyện về quân đội ? Tại sao bị hành hình ? Có nhiều bạo lực trong câu chuyện này không ?

Đấy là sự khởi đầu. Chỉ cần một chút kiên nhẫn và khiêm tốn, tôi nghĩ, cô gái ấy, sắc đẹp và tâm hồn cô đã hoàn toàn là của bạn rồi. Vậy mà đối với nhiều thổ dân của xứ này, Trăm năm cô đơn, từ xưa vẫn vậy, chỉ là một cục nước đá đến từ mỹ latin.

 

Advertisements

Những bông hoa màu đỏ của tôi

Trong những đêm mùa đông lạnh giá của tháng giêng này, tôi có một thú vui là “đi dạo” trên trang google map. Google thật kỳ diệu, nó là một tấm bản đồ ảnh chụp vệ tinh toàn bộ bề mặt trái đất, chi tiết đến từng con đường, ngọn cây, khu nhà, thêm vào đó là những tấm ảnh phong cảnh đính kèm, hệ thống street view khiến người xem có thể ngắm khung cảnh hai bên những con đường. Chỉ cần internet là tôi có thể đến lại những thành phố tôi đã từng sống, đi trên những con phố nhỏ mà tôi đã quên, nhớ lại những điều mà có lẽ không có google map thì đã lùi quá xa vào ký ức.

Vào năm 2003 và nửa đầu 2004, tôi ở trên một ngọn núi. Nó là ngọn núi cao nhất ở miền bắc nước đức, một khu nghỉ dưỡng với những rừng thông, những đồi cỏ mỡ màng và đặc biệt là những hồ lớn nhỏ đẹp như trong tranh vẽ. Chính xác là 64 cái hồ, điều đó thì tôi vẫn còn nhớ rõ. Đấy là những tháng ngày lạnh lẽo và cô đơn mà trước đó có nằm mơ tôi cũng không thể nào tưởng tượng ra được. Nhưng có lẽ cũng bởi vì thế mà tôi nhạy cảm với những điều đẹp đẽ hơn, và có lẽ, bởi vì khi người ta 23 tuổi và trái tim vẫn còn trong trắng, thì những gì thuộc về chân thiện mỹ không xa rời và bất khả như khi người ta đã 33. Tôi của tuổi 23 là một cái gì đó đã trôi mãi vào quá khứ, như một khuôn mặt của người thân đã nhiều năm không gặp, bạn không thể nhớ rõ khuôn mặt ấy, không thể vẽ ra được khi nhắm mắt lại, nhưng bạn nhớ, nhớ rất rõ tâm hồn người đó, sự trong sạch chưa vấy bẩn và những nỗi tuyệt vọng không tài nào che dấu nổi, đấy là một con người đẹp đẽ mà bạn đã mất đi mãi mãi. Một cách thành thực, không khiêm tốn giả tạo, và không phải là không thất vọng với cuộc đời, người trẻ tuổi đó là người đẹp đẽ nhất mà tôi từng biết. Đôi khi tôi ước gì anh ta đã chết ở thời điểm đó, để khỏi phải dấn thân vào những sự bẩn thỉu và tầm thường, để rồi những gì đẹp đẽ trong bản thân anh ta cũng đã cạn đi gần hết.

Dù sao thì được sống lại trong ký ức về người xa lạ đó cũng là một cảm giác xao xuyến bồi hồi. Hồi đó tôi thường đi dạo một mình. Có một tuyến đường tôi đi vài lần và ấn tượng mạnh mẽ về nó đã vào một truyện ngắn của tôi. Nó như thế này :

“…Từ bến bus chúng tôi cuốc bộ thêm khoảng hai mươi phút đến ký túc xá, ăn uống xong tôi rút lui để H. ở lại tán chuyện với em xinh. Hôm nay nắng đẹp, đi dạo rất tốt. Tôi mặc thêm áo ấm rồi vượt qua con đường cái lớn, sang bên kia đã là một rặng cây sồi dài và mỏng. Đi bộ thêm khoảng dăm phút, tôi ra khỏi rặng cây, bắt đầu đi thong thả, vừa đi vừa ngắm những cái hồ nho nhỏ phẳng lặng. Mùa hè ở đây lại không nhiều màu sắc như mùa đông. Nếu bạn ra đây vào khoảng tháng mười một, sương giá bắt đầu làm cây cỏ chết, bạn sẽ thấy đủ mọi sắc màu từ xanh lá cây đến vàng úa, từ xanh lá cây đến trắng. Một khóm cây có trung bình năm sáu màu khác biệt. Con đường đi dốc lên, qua đỉnh đồi, hai bên có hàng rào, là mấy chỗ chăn thả, đợt hè này tôi thấy nhiều ngựa hơn bò, giống ngựa to bốn chân có nhiều lông nên trông như mặc quần ống loe. Khu này có một số nhà vườn nhỏ, trồng hoa và cây cảnh. Vượt qua thêm một ngọn đồi cỏ nữa, đột nhiên bạn sẽ đứng trước rừng thông cao lớn, mỗi cây cao khoảng mười lăm hai mươi mét. Con đường đi thẳng vào rừng thông, và khi đi dưới những tán cây lá kim dày đặc ẩm ướt bạn không thể không nghĩ rằng mình đang lạc vào một câu chuyện thần tiên nào đó.

Đi tiếp sẽ đến một ngã ba, dấu hiệu là có cái ghế băng bằng gỗ. Tôi đã ngồi trên cái ghế này hai lần.

Lần đầu là khi tôi mới sang Đức, mùa thu. Không phải mùa hè mà chưa là mùa đông. Tôi ngồi trên cái ghế gỗ này và lặng yên nhìn sóng đánh dạt dào đến sát chỗ tôi ngồi. Ồ, tôi quên chưa nói với bạn nhỉ ? Sát bên rừng thông này là một cái hồ khá lớn, nếu so với mấy cái hồ con con có nhiều ở vùng này. Hồ có nhiều gió, nên có sóng. Sóng đánh đúng vào chỗ có cái ghế băng, tức là nơi tôi ngồi đấy. Và không hiểu vì sao, sóng nhẹ như vậy mà đánh đến nơi lại sủi bọt, và tôi không thể nào miêu tả được vẻ đẹp của chùm hoa đang dập dềnh ở chỗ nhiều bọt đó. Chỉ biết là, mùa thu không có hoa, khắp vùng hồ đấy, tôi đi, chỉ duy nhất dưới chân chiếc ghế đó là có những bông hoa màu đỏ rực. Hoa lẫn vào bọt trắng xóa, không lẫn vào đâu được. Và cũng chỉ lần đầu tiên ấy là tôi nhìn thấy chúng. Đó là màu đỏ duy nhất trong một vùng núi Ober Harz rộng lớn nhiều sắc xanh, vàng và trắng, nơi nổi tiếng về phù thủy, nơi Margarita của Bulgakov đã kết thúc chuyến bay từ Moscow, lõa thể mà vẫn lộng lẫy, bước đi trên suối trong khi bầy quỷ đủ hình dạng chỉ biết cúi đầu và soi đuốc.

„Nếu Margarita là có thật, hẳn nàng đã từng ngồi đây.“

Sóng cứ đánh vào chân tôi rào rào như để che dấu tiếng khóc thầm, còn tôi không thể làm gì khác hơn là ngồi đó trong cái lạnh dưới không độ, ngạc nhiên ngắm những chùm đỏ rực, ngạc nhiên mãi, triền miên. Lần ấy tôi ngồi rất lâu, đến xâm xẩm tối mới về.

Khi có thời gian, tôi ra lại lần thứ hai thì đã là mùa đông, cả một miền núi phủ đầy tuyết. Mặt hồ đóng băng và tất nhiên, không có sóng. Vẫn gió. Gió còn mạnh hơn hồi mùa thu, rít lên từng chặp một. Nhiệt độ không có gió khoảng âm mười độ, còn có gió phải thấp hơn sáu độ nữa. Tôi tưởng mình đóng băng được. Trời xỉn một màu cháo lòng và bây giờ tôi để ý bên kia hồ có một cái nghĩa địa, không rõ có phải mới xây. Đó là một cảnh tượng thê lương. Tôi không ngồi trên ghế mà chỉ đi qua đó nhanh rồi quay lại. Tôi cảm thấy xót xa quá. Còn buốt nhói hơn những lần đổ vỡ trong tình yêu nhiều. Xót xa đến độ một kẻ không thích thơ lắm như tôi lúc về đã viết ngay ra một bài, và bực mình vì cái mình viết không diễn tả nổi một phần trăm cái mình cảm thấy :

Tôi đã đi qua mùa đông nơi đây

(viết xong tôi chần chừ rồi đánh dấu toàn bộ phần còn lại của bài thơ và ấn del.)

Cả lần này nữa, lần thứ ba, tôi không thấy chúng. Tôi cảm thấy rằng cái màu đỏ mà so với nó hoa phượng còn nhạt nhạt, cái màu đỏ ấy tôi sẽ không bao giờ tìm lại được nữa. Đôi khi tôi còn không chắc rằng tôi đã nhìn thấy những bông hoa đó thật, bởi một số bạn của tôi đã ra đây đều nói là chưa bao giờ nhìn thấy cái gì tương tự. Chúng thuộc về một số thứ không thể tiên liệu trước trên trái đất này.

Ngay cả vào mùa hè, ngồi trên chiếc ghế này tôi vẫn thấy lạnh. Trời trong xanh và nếu bạn ở trên cao nhìn xuống, bạn sẽ thấy thêm một bầu trời nữa qua mặt hồ phẳng lặng trong trắng. Tôi viết vào cuốn sổ nhỏ, lưu lại những hình ảnh, như một hình thức bảo hiểm.”

—–

Thật tốt nếu có cuốn sổ bảo hiểm đó. Những bông hoa màu đỏ của tôi, bây giờ tôi đã biết, tôi sẽ không bao giờ tìm lại. Đó là điều chắc chắn. Qua google map, tôi khám phá ra rằng ngay cả khi sống trong thành phố trên núi nhỏ xíu đó, tôi cũng mới chỉ đi trên một số rất ít những con đường, đến thăm rất ít những cánh rừng, những khu nông trại và có biết bao nhiêu cái hồ tuyệt đẹp không hề kém cái hồ gợn sóng của tôi. Tôi nhớ lại khi mới đến đó, có lần lạc đường trong một buổi tối lạnh dưới không độ, lang thang hơn một giờ đồng hồ mới đến được nhà bạn, người như ướp đá, tôi đã uống một tách trà hoa quả, thứ mà tôi bình thường không bao giờ đụng vào vì tôi chỉ uống trà đen, tôi đã uống nó như một thứ linh đan diệu dược và dòng nước nóng thấm vào cổ họng như khiến tôi hồi sinh. Tôi nhớ những hôm lười nấu cơm, ra đầu ngõ mua bánh mì kebap ở một quán nhỏ xíu không có cả ghế ngồi, nhưng bánh mì của họ rất ngon, tôi vẫn còn nhớ được rate 4 sao trong trang của các quán kebap toàn nước Đức. Tôi nhớ dù đang tháng năm tuyết vẫn rơi phủ một lớp băng mỏng lên lối đi dưới cửa sổ, nhớ rèm lật treo trên trước cửa sổ ấy, nhớ chậu cây đặt trên cái bàn rất to có cạnh viền cong. Tôi nhận ra rằng dù không làm gì nhiều, mười năm qua vẫn là dâu bể. Tôi nhớ lại một tôi khác, người đã ngồi lại bên dưới những hàng thông, trên chiếc ghế gỗ cạnh bờ hồ, người đã ngồi lại đó để ngắm những bông hoa màu đỏ dập dềnh trên bọt sóng – trong một bài ca kỳ lạ, không lời, không âm thanh, bài ca với những lời nhắn nhủ dịu dàng và nghiêm khắc nhất mà tôi từng biết.

A love letter

.

These rainy days and nights are persistent, make me remember things. Of all the art pieces about the rain, I’ve always loved  Cassidy’s voice in Kathy’s song, its sad and melancholic rhythms contain a sky of yearning loneliness. But…

Actually these beautiful words are not Cassidy’s, they are from the genius (and often forgotten) song writer Paul Simon. And actually it is a love letter.  Kathy was Simon’s lover, then she left him when he became famous (!) – that was a time when people know that love treasures privacy. One now can see that why this song is filled with unrequited and lost feelings. The original is not as sad and hopeless as Cassidy’s rendition, maybe because she never had something as beautiful as Simon’s. It’s somehow more of acceptance, knowing there are ways in this world once parted, never come back, and one must live on, while holding those precious memories close to heart.

from Paul Simon, to Kathy

Kathy’s song

I hear the drizzle of the rain
Like a memory it falls
Soft and warm continuing
Tapping on my roof and walls

And from the shelter of my mind
Through the window of my eyes
I gaze beyond the rainy streets
To England where my heart lies

My mind’s distracted and diffused
My thoughts are many miles away
They lie with you when you’re asleep
And kiss you when you start your day

And a song I was writing is left undone
I don’t know why I spend my time
Writing songs I can’t believe
With words that tear and strain to rhyme

And so you see I have come to doubt
All that I once held as true
I stand alone without beliefs
The only truth I know is you

And as I watch the drops of rain
Weave their weary paths and die
I know that I am like the rain
There but for the grace of you go I

.

.

Minimalism at its best

or my newfound respect for actor Rutger Hauer, who improvised in secret without director Ridley Scott’s knowledge

the script :

Roy Batty : I’ve known adventures, seen places you people will never see, I’ve been Offworld and back… frontiers! I’ve stood on the back deck of a blinker bound for the Plutition Camps with sweat in my eyes watching the stars fight on the shoulder of Orion…I’ve felt wind in my hair, riding test boats off the black galaxies and seen an attack fleet burn like a match and disappear. I’ve seen it, felt it…!

the improvisation by Hauer :

Roy Batty : I’ve… seen things you people wouldn’t believe… [laughs] Attack ships on fire off the shoulder of Orion. I watched c-beams glitter in the dark near the Tannhäuser Gate. All those… moments… will be lost in time, like [coughs] tears… in… rain. Time… to die…

.

Do you feel the difference ? there were actual tears in the crew after filming this scene.

ოოოოო

ქეთი მელუა – ციცინათელა

ჩემო ციცინათელა!
რად მიჰფრენ ნელა-ნელა?
შენმა შორით ნათებამ
დამწვა და დამანელა!

ანათებ და კარგი ხარ,
მე თუმც არას მარგიხარ!..
ჩემი იყო, ის მინდა,
შენ კი სხვისი ბარგი ხარ!..

when loneliness sings

Cassidy’s voice always left me sad. More so over time, it goes deeper, like… the taste of tea.

Now the song I was writing is left undone
I don’t know why I spend my time
Writing songs I can’t believe
With words that tear and strain to rhyme

And so you see I have come to doubt
All that I once held was true
I stand alone without beliefs
The only truth I know is you

Vũ Trọng Phụng

Hôm nọ buồn tình lại ra hiệu sách Nguyễn Xí. Không có gì ngạc nhiên khi thấy phần lớn là văn học rẻ tiền, bây giờ những cái tên như Dương Thụy hay Gào (?) gì đó đã thành quen thuộc bày đầy trên giá.  Loay hoay một lúc thế nào hiện ra trước mắt cái giá sách của các tác phẩm cũ. Thật sự mà nói, tôi không ưa văn học việt nam, một phần lớn là do công sức của bộ môn văn học ở trường. Một phần nữa, tư tưởng chủ đạo của đa số tác phẩm trước đây đã lỗi thời. Trong đống gáy sách xanh đỏ tím vàng, một cái tên đập vào mắt ngay : Vũ Trọng Phụng. Xuân tóc đỏ thì có bao giờ lỗi thời được ? Tôi mua hai quyển là Làm đĩ và Trúng số độc đắc.

Trúng số độc đắc có một mùi thật hay ho. Đấy là mùi của Kafka. Georg qua đêm biến thành con gián vì mất sức lao động thì anh Phúc cũng lột xác thành một người khác chỉ vì trúng số. Từ chỗ bị đối xử ngang với con chó, đùng một cái, anh trở nên một ông hoàng. Mười vạn đồng tiền biến anh thành một tượng thần và các con giời giữ những địa vị như bố, mẹ, vợ, bạn, họ hàng, quen thân, xa lạ quỳ mọp dưới chân anh. Anh nếu có nhổ xuống trúng vào mặt họ thì họ mỉm cười sung sướng vì đã được phú ông để ý, sẽ giương mặt lên hết cỡ xin được anh khạc nhổ nữa vào mặt họ, trong khi đó họ sẽ dõng dạc trần tình lý do tại sao cứt của anh thơm tho đến tuyệt vời. Anh vứt xuống giữa cái bãi ấy một bao tiền, sẽ có một cuộc tranh giành đẫm máu ngay. Mười vạn quan tiền làm anh trở nên thanh cao, nho nhã, có sức hấp dẫn lạ kỳ với phái nữ. Anh nuôi bồ nhí, vợ anh không ghen mà còn tự hào rằng chồng mình có đảm lược, biết ăn chơi. Nàng thơ trước kia từ chối anh phũ phàng bây giờ năng đến nhà anh chơi, trang điểm thật kỹ, nhìn anh thật bẽn lẽn, thẹn thùng.  Tất cả những điều đó như một con sóng thần khai sáng và tàn nhẫn ập lên đầu con người vốn nhân hậu và ưu tư là Phúc, trước tiên làm anh giận dữ, rồi sau đó làm anh mãi mãi lộn mửa, buồn nôn.

Cơn lộn mửa mà chẳng phải chỉ có Kafka và Vũ Trọng Phụng mới có, ai có lương tri và óc quan sát đều có thể thấy những ví dụ tương tự. Tôi cũng đã trải qua những câu chuyện chả khác gì, thậm chí xảy ra với chính bản thân tôi.

Có thể gọi Trúng số độc đắc là phiên bản Hóa thân của Việt nam. Cả hai đều mượn những sự kiện hy hữu – Georg hóa gián, Phúc giàu đột ngột – để làm một cuộc đại phẫu thuật lột bỏ những cái gọi là tình cha con, mẹ con, anh em, bạn bè, vợ chồng, yêu đương trong xã hội tư bản. Không hẳn là trong xã hội tư bản thì những cái đó không tồn tại, nhưng, đã gọi là tư bản thì yếu tố tiên quyết là thặng dư, dạng hình chủ yếu nhất của thặng dư là tiền. Tiền là khởi nguồn, là thứ đứng đằng sau, chi phối tất cả những thứ khác. Đơn giản và rõ ràng. Vô nhân đạo.

Cái tôi thích nhất ở Vũ Trọng Phụng không phải là sự mỉa mai sâu cay, mà là sự sáng suốt trong suy nghĩ của ông. Cái sáng suốt dễ nhận thấy ở những người luôn luôn biết nghi vấn để phân tích, nhìn sự việc ở tất cả những góc độ có thể. Một người biết hỏi “tại sao” rồi tự mình trả lời, không bị ảnh hưởng của phong trào, của sự dễ dãi, của nhu cầu muốn có nhiều người thích văn mình. Cái cảm nhận rõ rệt, trong sáng về lẽ phải. Lẽ phải duy nhất. Lẽ phải không chịu thỏa hiệp, không thể bị tầm thường hóa.

Hunters all their lives ! hay Niềm tự hào của thảo nguyên

 

I’m watching you breathing. For the last time.

Mượn lời James Blunt với nghĩa khác.

Ngựa cung. Tiếng Anh là Cavalry Archer, hoặc Mounted Archer.

Trên thảo nguyên, binh chủng này nhanh như gió, tiến lui xuất quỷ nhập thần, chính là loại binh chủng phù hợp nhất với những bình nguyên trải dài vô tận của tây á như Trung Nga, vùng Trung cận Đông, Mông Cổ hay thậm chí cả một vài nước Đông Âu. Từ những năm trước công nguyên cho đến tận thế kỷ 15-16, Ngựa cung luôn là loại quân thống trị trên các miền đất rộng. Cả về sau nữa, cái khác là cây cung bị súng trường thay thế.

Đối diện với một đạo quân lớn của kẻ địch, ví dụ những đạo quân châu Âu bao gồm quân bộ (Infantry) và các hiệp sĩ giáp nặng (Heavy Cavalry), Ngựa cung với khả năng di chuyển linh hoạt của mình sẽ có vô số thủ đoạn như nhử, kéo, móc cánh, bẫy, chia cắt đối phương. Một đối một cận chiến, Ngựa cung không phải là đối thủ của bất kỳ loại quân chủng Tây Âu nào. Một đạo quân với một đạo quân, Ngựa cung sẽ xé nát những bộ giáp di động của các hiệp sĩ.

Giống ngựa để dùng cho binh chủng này thường là ngựa châu Á, lùn, nhỏ, dai sức. Người cưỡi ngựa cũng thường không hề mặc giáp, chỉ mang theo mấy bó tên và một cây cung, cộng với một cây kiếm ngắn. Ngựa cung dẻo dai hơn hẳn ngựa của các Kỵ sĩ châu Âu với gần hai trăm kg phải mang trên mình. Ngựa cung là không thể đuổi được (uncatchable).

Một đạo quân chậm hơn Ngựa cung mà đi đấu với Ngựa cung trên một vùng đất trống là cầm chắc cái chết. Ngựa cung sẽ luôn giữ một khoảng cách nhất định để đủ an toàn, và tưới tên vào người anh. Đuổi không được, chạy không xong, một cái chết chậm rãi.

Cách duy nhất để đấu lại chiến thuật này là sử dụng một đội hình nhiều bộ cung thủ, được bảo vệ bởi lính giáo. Luôn giữ đội hình, di chuyển chậm. Nhưng trên các bình nguyên, trên các sa mạc khí hậu thường khắc nghiệt, lúc nóng thì cháy da, lúc lạnh thì vỡ đá, di chuyển chậm như thế cũng gần như tự sát.

Trên thế giới và trong lịch sử, rất nhiều đế chế đã sử dụng thành công binh chủng này. Thời La mã, có thể kể đến đế chế Seleucid và Parthian. Sau đó là Byzantine. Thời Trung cổ (1000-1600) chứng kiến đế chế Ottoman (Thổ) được xây dựng với loại ngựa cung tên Sipahi. Rồi khi Mông Cổ tràn tới làm cả châu Âu hùng mạnh run sợ thì loại binh chủng khét tiếng nhất chính là Ngựa cung Mongol Archer Cavalry hay Heavy Steppe Cavalry, hay còn có tên khác là Pride of the Steppe – niềm tự hào của thảo nguyên. Có câu vó ngựa Mông cổ đi đến đâu là cỏ ở đấy không mọc nổi. Quân Mông Cổ thời đó gần với nghĩa quân đội hơn rất nhiều so với quân châu Âu, bao gồm những hiệp sĩ hiếu thắng và cá nhân chủ nghĩa. Rất thường thấy quân Mông cổ với quân số bị áp đảo mấy lần nhưng có chiến thuật vượt trội, chạy đi chạy lại, vòng vèo mấy lần làm loạn hết đội hình quân Âu và giết chẳng chừa một ai, sưu tập tai cho vào bị.

Người ta kể lại, thời đó kỵ binh của Mông cổ là một cái gì đấy đặc biệt, nó không phải là một người lính cưỡi trên một con ngựa, hai thực thể đó đã gắn bó với nhau đến mức nhập làm một. Hợp thể Ngựa cung đó là nhân tố tạo nên nhiều trang sử oai hùng và đẫm máu trong các cuộc chiến Âu-Á.

Và hơn nữa, Ngựa cung có gì rất gần với Đại bàng. Trên thảo nguyên, chúng có sức mạnh vô địch, và tự do như cơn gió.

Like a sweet dream it falls

 

 

Prejudice is a terrible thing, isn’t it ? Now I know I’m in love with this rainy song, its beautiful lyric. And I’m in love with Eva Cassidy. She died, but her existence will last many more years, in many hearts, in mine.

I hear the drizzle of the rain
Like a memory it falls
Soft and warm continuing
Tapping on my roof and walls

(And from the shelter of my mind
Through the window of my eyes
I gaze beyond the rain-drenched streets
To a land where my heart lies)

My mind’s distracted and confused
My thoughts are many miles away
They lie with you when you’re asleep
Kiss you when you start the day

(Now the song I was writing is left undone
I don’t know why I spend my time
Writing songs I can’t believe
With words that tear and strain to rhyme

And so you see I have come to doubt
All that I once held was true
I stand alone without beliefs
The only truth I know is you)

And as I watch the drops of rain
Weave their weary paths and die
I know that I am like the rain
There before the grace of you go I