beauties of this world

I knew the call of all the song birds

… they sang all the wrong words

 

This is the age of tv series. While the movie blockbusters are gradually turning to shit, big and small series turning golden. I don’t remember exactly when,  perhaps since Breaking bad and Game of thrones, all good motion pictures are series.

Some that I watched recently :

Detectorists is slow, peaceful, and fresh. Makes your worries go away, for about 45 mins at least. I enjoy 3 seasons of its very much.

There are also many great sci-fis. Last month alone, I found Altered Carbon and The Expanse. Both are super, the Expanse is richer, I can’t stop binge watching. Westworld, sadly, doesn’t live up to its potential, is only over average.

Time period series, a new gem : Babylon Berlin. Set in Berlin 1926, it has memorable characters, dynamic story line, magic atmosphere. The heroin is cheerful, inside and outside, many men want her and somehow she only sleeps with a lying, fat, old, typical german pig. Disgusting and hilarious at the same time.

Advertisements

Pierrot le fou (1963) – Sometimes, life is beautiful, but it will always be sad

Tối nay đọc lại được một câu từ bộ phim này. Một post cũ (2011) từ blogspot.
Một trong những film hay nhất của trào lưu avant-garde (*) cinema nói chung và French New Wave (**) nói riêng.
.
.

Ấn tượng đầu tiên của tôi về Pierrot le fou : đây rõ ràng là một phim pháp. Phim được quay với màn ảnh rất rộng, phim dài, tiết tấu chậm lại càng thấy dài hơn và khuôn hình thường luôn ngập tràn ánh nắng. Lại thêm một film rất không Hollywood với những góc quay được giữ rất lâu, cách quay đặc trưng của châu Âu, sự chậm rãi trong từng chi tiết làm nhiều lúc phim cứ như những bức tranh nối tiếp nhau. Lời dẫn chuyện song song của giọng nam và giọng nữ xen kẽ như một bài thơ hay đúng hơn là một điệu nhạc chậm rãi nên thơ.

Đạo diễn Jean-Luc Godard muốn đây là một bộ phim của các mảnh nhỏ, đẹp của nghệ thuật hơn là một kết cấu. Một bộ phim gần với một bức tranh hoặc một bản nhạc hơn là một tiểu thuyết. Vì thế bản thân nội dung hay nói đúng hơn là tuyến truyện của film không có vai trò quá quan trọng. Khởi đầu với thành phố, những cảnh quay trong nhà, những buổi tối, ta thấy hai nhân vật chính : Marianne và Ferdinand (hay Pierrot như cách cô vẫn gọi) sống trong một cảm thức tù đọng, ớn ngán xã hội trưởng giả tư bản. Pierrot đã có vợ con, anh đọc sách rất nhiều, có thể thấy sự cô đơn của anh ngay trong cảnh gần đầu film : anh quote cho con gái nghe về cuộc đời của họa sĩ Velazquez anh đang đọc trong sách, thứ mà cô bé làm sao hiểu nổi :

“The world he lives in is a sad one. A degenerate king, sickly infantes, idiots, dwarfs, cripples, clownish freaks dressed as princes, whose job was laugh as themselves, and amuse a court that lives outside the law, caught in a web of etiquette, plot and lies, bound by the confessional and their own remorse. Outside the gates, the auto-da-fé and silence… Listen to this, little girl. A spirit of nostalgia prevails, yet we see none of the ugliness or sadness, none of the gloom or cruelty of this crushed childhood. Velázquez is the painter of the evening, of open spaces and of silence, even when he paints in broad daylight or in a closed room, even with the din of battle or of the hunt in his ears. As they seldom went out during the day, when everything was drowned in torrid sunshine, spanish painters communed with the evening. Beautiful, isn’t it, little girl?”

Velazquez thì có thể giao cảm với những buổi tối, nhưng Pierrot thì không. Anh đến các buổi “chiêu đãi” của giới nghệ sĩ và cảm thấy tất cả những người xung quanh đều đần độn đến nỗi anh bắt đầu nghi ngờ ngay cả trí tuệ của bản thân mình. Anh có thể làm gì ? Còn gì để làm, ngoài việc chạy thật xa với Marianne ?

Marianne’s voice : A Season in Hell.
Pierrot’s voice : Love must be reinvented.
Marianne’s voice : Real life lies elsewhere.
Marianne’s voice : Countless centuries fled,
Marianne’s voice : into the distance, like so many storms…
Pierrot’s voice : I held her close,
Pierrot’s voice : and began to cry…
Marianne’s voice : It was our first,
Marianne’s voice : our only dream.

Từ đó, cách quay của film thay đổi. Khung hình không bao giờ thiếu ánh sáng nữa, cũng như cuộc sống trên con đường trốn chạy xuống miền Nam nước Pháp của đôi tình nhân giờ đã có tự do. “Life may be sad, but it’s always beautiful.” Không chỉ là một cuộc trốn chạy khỏi nhà tù cuộc sống thường nhật, mà hơn thế, hai nhân vật của chúng ta còn từ chối cả những thành tố cơ bản của đời sống đó, ví như sự sở hữu. Họ đốt tiền, theo nghĩa đen, họ quẳng vali tiền xuống biển để sau đó đi mua vui cho khách du lịch kiếm vài đồng, họ bắn cháy xe ô tô để đi bộ vượt qua những ngọn đồi, những đồng cỏ xanh mướt, những trang trại nặng trĩu cam và táo, họ ăn cắp và lại phi xuống biển một cái xe bạc triệu khác, rồi sau đó đi chân trần trên bờ biển, hoàn toàn không nghĩ đến những giá trị vật chất, không thèm sợ hãi ngày mai.

Tôi chưa bao giờ thích các phụ nữ “đàn bà”, đàn bà ở đây hiểu theo nghĩa một tính từ chỉ sự thất thường, hành động cảm tính, suy nghĩ phi lý tính, thay đổi tâm trạng như lá khô trong gió, thích sử dụng vui đùa cái vũ khí tối thượng mang tên quyền lực nữ tính của mình. Marianne là một cô gái như vậy. Nhưng phải thú nhận rằng Marianne là một cô gái mà người ta không thể không yêu. Vai này được diễn bởi Anna Karina, vợ của Godard. Cô quá đẹp, cái đẹp mượt mà, sinh động của một con cáo, thân hình của cô gái pháp thon nhỏ, duyên dáng nhưng đầy sức sống, đôi mắt thông minh, ranh mãnh khó lường, có lúc lại si tình, mơ màng. Cũng giống Pierrot, ở cô có khía cạnh hiện sinh. Cô chả cần gì, tiểu thuyết, nhạc hay thậm chí là cô cũng chả cần tiền. Cái cô muốn, là sống. Mà sống đối với cô lúc này là yêu Pierrot của cô, là đi mãi cho đến những bờ biển địa trung hải, là hát cho anh nghe, đọc thơ với anh, diễn những vở kịch nho nhỏ với Pierrot, người cứ luôn không chịu chấp nhận cái tên ấy. Cô mong muốn mãi mãi được phiêu lưu. Khi Pierrot hỏi cô “You’ll never leave me ?”. Cô trả lời ngay : “Of course I won’t.” Pierrot hỏi lại “Of course ?” Marianne nhìn anh và nói : “Yes, of course.” Rồi cô nhìn xuống bàn. Rồi nhìn thẳng vào người xem. Khuôn mặt cô rất đẹp. Rồi cô nhìn người yêu và nói lần nữa : “Yes, of course.”. Rồi cô nhìn xuống bàn. Và lại nhìn vào ống kính. Lần này thì chỉ còn mỗi Pierrot là không hiểu cô đang nói dối, và người xem (hay tôi) cảm thấy rất khó tả, cái cảm giác có lẽ gần giống khi ta được chứng kiến một phút huy hoàng rực rỡ mà trong lòng đã hiểu rõ nó sẽ nhanh chóng lụi tàn, cái ta đang giữ trong tay rồi sẽ chuội đi như nắm cát, chỉ lại một sự hối tiếc, một sự tất yếu không gì ngăn chặn được. Một cảnh tuyệt đẹp của Anna Karina.

Ferdinand, hay Pierrot (the Crazy) như cách Marianne gọi, lại là đại diện cho lý tính. Anh suy tưởng trong hầu hết thời gian film. Anh đọc sách và nghe nhạc theo tỉ lệ 50 quyển sách một đĩa nhạc. Anh nói anh không bao giờ có nổi một cuộc trò chuyện có nghĩa với Marianne bởi vì ngôn từ của anh là ý tưởng (idea), trong khi ngôn từ của cô chỉ toàn là cảm xúc (feelings). Anh cô đơn, anh tuyệt vọng (despair) (***), anh chỉ còn tin vào văn học. Anh mang theo một quyển notebook, anh viết, anh quote các câu văn và thơ như thể đó mới là nhu cầu chính của anh trước cả ăn, ngủ và làm tình. Khi bị Marianne bỏ rơi, ngôn từ là mảnh đất duy nhất mà anh có thể trú ngụ :

He still keeps a diary. For words have the power to disperse the shadows from around the objects they name. Even if it’s compromised, in everyday life, language often retains only what is pure.

Pierrot và Marianne, nam tính và nữ tính, lý trí và cảm xúc lúc quyện vào nhau, lúc rời xa nhau song hành xuống miền Nam. Trên nền sợi dây phiêu lưu đơn giản này, Godard bắt đầu treo vào những bài thơ, những đoạn văn, những bài hát, những vở kịch nho nhỏ, những mỉa mai chính trị, những câu chuyện cười ý nhị, những khung hình chậm như những bức tranh. Phải nói rằng đây là một sợi dây biết hát. Tôi thích tất cả những khung hình có Marianne. Mọi thứ về cô đều hiển hiện nữ tính : khi cô nhảy, hát, nói, cả khi cô giết người. Chưa bao giờ tôi xem một bộ phim mà trong đó có cô gái giết người đẹp nên thơ như thế. Không một chút vẩn đục của bạo lực. Cảnh “đánh nhau” giữa Marianne dùng kéo và tên gangster lùn cầm súng là một trong những cảnh ấn tượng nhất của phim này, dù chỉ diễn ra có vài giây. Karina đứng giữa hai bức tranh của Picasso, giơ cái kéo về phía ống kính, lưỡi kéo và hai ngón tay cô tạo thành hình một con chim và khi cô cắt, con chim bắt đầu bay. Cô là sức sống của cảm xúc bên cạnh một Pierrot thông minh sáng suốt chấp nhận những giới hạn, những xiềng xích không thể cởi bỏ của sự hiện hữu.

Như là cái chết.

Ở cuối phim, có một cảnh rất đẹp. Sau khi Pierrot giết Marianne và tự sát, camera quay về phía biển, biển rộng lớn và xanh ngắt. Lời dẫn chuyện cuối cùng :

Marianne’s voice : It’s ours again.
Pierrot’s voice : What is ?
Marianne’s voice : Eternity.
Pierrot’s voice : That’s just the sea, gone…
Marianne’s voice : With the sun.

Pierrot le fou là một tác phẩm kinh điển của điện ảnh pháp. Tôi nghĩ là không quá lời khi nhiều người nhận xét rằng đây là một bộ phim đã vượt qua cả định nghĩa của điện ảnh, nó còn là văn học, âm nhạc, hội họa, là thơ, nó chứa đựng cả một thời kỳ nghệ thuật với nhiều phong trào khác nhau. Godard muốn làm một bộ phim nghệ thuật, và ông đã đạt được nghệ thuật.

—————

(*): Nói qua một chút về avant-garde : là một từ tiếng pháp của từ tiếng anh vanguard, tạm dịch ra tiếng việt là tiền phong (hoặc tiền vệ ?). Trào lưu này chủ yếu diễn ra trong thời kỳ của chủ nghĩa hiện đại (modernism), vào giữa thế kỷ hai mươi. Những người theo avant-garde là những nghệ sĩ tách riêng ra khỏi trào lưu chính thống (mainstream), đối lập với nó, chống đối nó, cái ở đây phải hiểu thêm là trào lưu chính thống thương mại (commercial mainstream). Cải cách công nghiệp hóa trên diện rộng trong thời kỳ này đã dẫn đến việc thương mại hóa nghệ thuật, hình thành cái mà cho đến ngày nay vẫn tồn tại, Mass Media. Nó phục vụ cho mục tiêu cuối cùng và tối thượng là lợi nhuận, chứ hoàn toàn không vị nghệ thuật. Lợi nhuận ở đây không chỉ hiểu đơn giản là tiền, mà là tất cả những thứ có thể chuyển hóa thành lợi ích vật chất và dục vọng, ví dụ như độ nổi danh (popularity). Những sản phẩm của Mass media mang tính kitsch : không có từ tiếng việt tương ứng, nhưng có thể hiểu là sến, nông cạn, trang sức, giả tạo. Nó thường vay mượn một số biểu hiện bên ngoài của nghệ thuật vị nghệ thuật thực sự, ví dụ như chính của các tác phẩm vanguard, bên trong nó trống rỗng, không có chiều sâu, thường là vô giá trị. Kitsch cũng là một trào lưu, và tuy đã có trên thế giới từ lâu, có lẽ ở việt nam nó mới chỉ bắt đầu, dưới các phong trào mang tính bầy đàn như chụp ảnh, viết xã luận (của hot blogger), văn chương 8x,9x, nhạc v-pop. Tôi tự nhủ quan niệm của mình về nghệ thuật phi lợi nhuận, thậm chí phi công chúng cũng có thể phần nào xếp vào avant-garde.

(**): French new wave là một trào lưu điện ảnh những năm 50 và 60. Về nội dung, những phim của trào lưu này thường có nhiều yếu tố hiện sinh và một sự chấp nhận cái phi lý không thể tránh khỏi của cuộc đời con người. Về kỹ thuật (cinematic stylings), các đạo diễn thường sử dụng sáng tạo các kiểu lời dẫn chuyện; không quan tâm đến tình liền mạch của các đoạn phim, đưa ra những xâu chuỗi hình ảnh rời rạc, thay đổi nhanh chóng; mặt khác lại sử dụng những góc quay được giữ rất lâu bám theo đối tượng được quay; phát triển nhân vật không tuyến tính; luôn tìm cách nhắc khán giả nhớ là họ đang xem một bộ phim, một tác phẩm của con người chứ không phải một thực tại khác, ví dụ như trong Pierrot le fou, có lúc Pierrot đang lái xe tự nhiên quay lại nhìn vào màn hình nói vài câu bông đùa với khán giả.

(***): despair, từ được dùng nhiều trong film là một trong 3 keyword của triết học hiện sinh.

 

The everlasting questions (3)

 

“Behind this mask is not a man, is an idea.” V, V for Vendetta.

But what is the different between a man, and an idea, especially when we take the animal out of the men ?

Gần đây tôi có xem Pi, một bộ phim được nhiều người đánh giá là hay. Tuy đặt trên nền toán-tin, tác giả muốn nói đến quá trình nhận thức của con người về toàn thể thế giới, những ám ảnh điên cuồng và vinh quang của các nhà khoa học nói chung, và về chuyện cái giá mà họ phải trả liệu có xứng đáng hay không. Có một câu được lặp đi lặp lại nhiều lần trong độc thoại của nhân vật chính : “…my mother told me not to stare into the sun…”, ám chỉ một thông điệp xuyên suốt : đừng có cố giải mã cuộc sống, hãy sống. Theo tôi, thông điệp này ngu xuẩn và là một sự báng bổ với rất nhiều nhà khoa học chân chính, không vĩ cuồng, không điên khùng như nhân vật chính trong Pi, những người đã dùng cả cuộc đời và trí óc, giúp cho nhân loại ngày một văn minh, bằng cách giải mã những bí mật trong cuộc sống. Phải chăng đó chính là một trong những cách sống đáng kính trọng nhất ?

Trong Pi, có một chi tiết về máy tính : khi bị nhà nghiên cứu bắt nó giải quyết một vấn đề cơ bản nhất, cái có lẽ sẽ cho ra lời giải về mọi điều trong thế giới, máy tính rơi vào mê cung của những vòng lặp không lối thoát, và cho ra một lời giải. Nó không phải là lời giải của vấn đề trên, mà lại là bằng chứng cho thấy ở một góc độ nào đó, máy tính trở nên có ý thức tự thân, nó cảm được sự tồn tại của mình và muốn đưa ra một thông điệp.

Đây là một ý hay, có điều lại không mới : Hơn mười năm trước, ý tưởng này đã có trong Ghost in the Shell 1, và được trình bày hay hơn hẳn.

Nếu có thể chê GiTS ở một điểm gì, đó hẳn là sự “quá thông minh” của đạo diễn. Một mẩu nhỏ của GiTS cũng trở thành điểm nhấn trong một tác phẩm như Pi. GiTS movies súc tích đến mức căng thẳng, khi mà mỗi dòng đối thoại đều khiến tôi phải ấn Pause và suy nghĩ thật kỹ. Điều đó không hẳn đã là hay. Vì thế hai tập GiTS hay nhất mà tôi được xem lại chính là hai seri phim : The laughing manThe individual eleven. Khi dãn ra thành phim nhiều tập, đạo diễn có một không gian lớn hơn để phát triển các tư tưởng, có thể để những khoảng lặng, có thời gian xây dựng một cấu trúc phim chi tiết hoàn thiện hơn. Điều này cũng giống như có những câu chuyện dài, tinh vi và sâu sắc, nếu viết thành truyện ngắn thì rất hay, nhưng chỉ thật sự tuyệt hảo khi viết thành tiểu thuyết.

3.It’s because we’re all alive that we’re sad.

Will you stay with me? Will you be my love ?
Among the fields of barley?
And you can tell the sun in his jealous sky
When we walked in fields of gold

Khi xem các phim GitS trước, tôi không bao giờ tưởng tượng được sẽ có lúc Kusanagi – the Major sẽ có được một tình yêu. Tôi không hình dung ra được một tính cách phù hợp hài hòa với cô gái có cơ thể máy, trầm tư, mạnh mẽ và thông minh tuyệt đỉnh này. Thế rồi Hideo Kuze xuất hiện và chuyện tình của hai người thuyết phục đến mức tôi ngờ rằng đạo diễn đã ém Hideo Kuze ngay từ trước khi GitS công chiếu tập đầu tiên.

Khoảng giữa bộ phim dài Individual Eleven, quá khứ của Kusanagi được tiết lộ. Người ta vốn ít nghe nói thông tin về đời tư của cô, chỉ biết từ nhỏ Kusanagi đã có một cơ thể hoàn toàn là máy (cyborg body). Thật ra cô bé đã bị tai nạn máy bay. Tất cả hành khách đều thiệt mạng, ngoại trừ cô và một cậu bé ngồi cạnh. Tuy không chết, cô rơi vào trạng thái hôn mê sâu, không tỉnh lại được. Cậu bé thì bị liệt toàn bộ cơ thể, trừ cánh tay trái. Lâu ngày, nằm trong bệnh viện cạnh nhau, cậu bé, lúc này mất hết gia đình và bị họ hàng bỏ rơi, đã bắt đầu coi cô bé như người bạn duy nhất của mình. Cậu thầm cầu cho cô bé tỉnh lại, và quyết tâm gấp một ngàn con hạc giấy (người Nhật cho là nếu gấp đủ một ngàn con hạc, thì ước nguyện sẽ thành hiện thực). Vì thế cậu tập gấp hạc chỉ bằng bàn tay trái. Làm chưa đủ số thì tình trạng cô bé xấu đi, và người ta bảo cô bé đã đi đến một nơi rất xa. Trong hai năm sau đó, cậu bé không nói chuyện với ai, chỉ liên tục gấp hạc trong im lặng. Cứ như thể chuyện đó là một nhiệm vụ quan trọng được giao cho cậu. Muôn vàn con hạc giấy tràn ra khỏi giường bệnh của cậu, tràn xuống sàn nhà, nhiều quá đến nỗi y tá phải cất vào hòm giấy, rồi hòm giấy nhiều quá đầy cả một bức tường. Cho đến khi bác sĩ đến hỏi cậu có đủ dũng cảm để thực hiện một ca phẫu thuật khiến cậu có thể hoạt động như người bình thường không. Cậu bé không trả lời. Có còn gì chờ đợi cậu trong thế giới ngoài kia nữa đâu ? Cậu chẳng còn muốn bất cứ điều gì, ngoại trừ việc gấp những con hạc giấy.

Cuộc sống cứ thế trôi đi, cho đến một ngày có một cô bé tìm được đường vào trái tim cậu. Cô bé có cơ thể bằng máy, được bác sĩ mang đến chơi với cậu, có lẽ nhằm thuyết phục cậu. Đấy là một cô bé vui vẻ, hiếu động. Cô đã phải chịu đựng rất nhiều để thích ứng với các bộ phận máy móc trên người, nhưng cô không hề than vãn. Trái lại cô còn động viên cậu bé thực hiện phẫu thuật. Cậu bé thường ngồi im lặng và nghe cô bé nói. Rồi một hôm cậu bé đột nhiên mở miệng : “Bạn có gấp được hạc bằng bàn tay máy kia không ? Nếu được thì tớ sẽ chịu phẫu thuật.” Cô bé với cơ thể máy có thể chạy nhảy nhanh hơn cả người thường, nhưng với những việc khéo léo như vậy, cô chưa làm được. Dù rất cố gắng, cô không gấp được con hạc nào cả. Thất vọng, cậu bé nói rằng nếu phẫu thuật làm cậu không còn gấp được hạc cho cô bé đã chết trước đây, thì chẳng thà cậu cứ như bây giờ.

Sau hôm đó, cô bé không đến chơi với cậu nữa, và nói cô sẽ tiếp tục tập gấp hạc cho cậu. Chỉ sau khi cô bé ra đi, cậu bé mới nhận ra cô bé người máy này và cô bé bạn cậu hai năm trước chỉ là một. Cậu tự hứa với mình sẽ đi tìm cô bé. Với quyết tâm mới, cậu đã vượt qua được tất cả những khó khăn trong việc làm quen với cơ thể máy và sống lại cuộc sống bình thường.

Phải hơn hai mươi năm sau họ mới gặp lại nhau. Trong thời gian dài ấy, cả hai đều đã thay đổi rất nhiều cơ thể máy khác nhau, và không thể nào biết người kia sẽ chọn một hình dạng bên ngoài như thế nào. (Tôi nghĩ thật là tuyệt nếu mình có thể gặp lại một người bạn trong quá khứ, thấy người đó đã trở thành một người tốt, thú vị. Chuyện đó không xảy ra với tôi. Mọi sự chỉ như lời Hideo Kuze : “Water flows to lower height, and so does the human heart.”)

Chiến tranh thế giới thứ 3 rồi thứ 4 ập đến, cậu bé vào quân ngũ, phiêu bạt đến nhiều vùng đất khác nhau. Trong những chuyến đi xuyên châu lục đó, ở cậu nảy sinh một sự cảm thông và gắn kết sâu sắc với những người nghèo, những người không vị thế, không tiền bạc. Tư tưởng của cậu hoàn thiện, rồi tiến đến lý tưởng. Bất mãn với sự bất công và tình trạng lạc hậu ngu dốt đè nặng lên tầng lớp này, cậu trở thành một người hoạt động độc lập, một phần tử khủng bố, một người cách mạng. Cũng sở hữu cùng một cảm nhận mạnh mẽ về lẽ phải, Kusanagi chọn một con đường khác : chống tội phạm. Với khả năng lãnh đạo và tư duy chiến thuật, cô trở thành đội trưởng đội đặc nhiệm số 9. Cô cùng với đồng đội điều tra seri khủng bố Individual Eleven, và việc đó dẫn đến Kuze. Vụ điều tra này là nội dung chính của phim, vì quá dài nên không thể kể ra ở đây.

Biết đến sự tồn tại của Kuze sớm, nhưng chỉ đến tập cuối, hai người mới thực sự ở bên cạnh nhau, nói chuyện với nhau. Hoàn cảnh cũng thật trớ trêu : Quân đội dùng pháo và rocket tấn công vùng phiến loạn đòi tự trị, một quả rocket nổ gần hai người, khiến hai người tụt xuống một cái hố, bị bê tông và gạch vụn bịt kín ở trên, trong khi trong một thời gian ngắn nữa, đầu đạn hạt nhân sẽ đáp xuống, và sẽ giết chết toàn bộ tất cả cư dân vùng này.

Những lời hai người nói với nhau đơn giản, không vội vã :

Kusanagi hỏi : “Anh có thể gấp hạc không ?”

Kuze : “Bây giờ chỉ cần download phần mềm thì ai cũng làm được.”

Kusanagi : “Em không hỏi với ý đấy”

Kuze : “Em có thể gấp hạc chỉ với bàn tay trái ?”

Kusanagi : “Bây giờ em làm được rồi.”

Kuze hỏi : “Em cũng giống như một người đã trụ lại được trước nỗi cô đơn. (You seems to be someone who has also survived solitude.) Anh vẫn chưa hỏi tên em.”

Kusanagi : “Em không biết. Mặc dù em đã thay đổi rất nhiều bí danh. Chẳng phải anh cũng vậy sao ?”

Kuze : “Ừ. Anh đã tìm kiếm em trong một thời gian rất dài.”

Không chỉ ngôn từ mà cả cái cách họ nói với nhau cũng chậm rãi và bình thản. Không có những cảm xúc thường thấy bật ra như sự biểu lộ nhớ nhung dồn nén hay cái bồn chồn sợ hãi khi thời gian, như cát chảy xiết qua những ngón tay, đang dần cạn mãi đi, những phút vô tận ngắn ngủi sắp rời bỏ cuộc sống của cả hai người. Gương mặt máy của Kuze không có các cơ biểu lộ cảm xúc. Kusanagi chỉ có rất ít. Không có động từ yêu. Không có cái hôn nào cả. Chỉ có một cái ôm. Vượt hơn tình yêu nam nữ, những gì tôi cảm nhận được là một tình yêu trong trắng và trọn vẹn của hai con người đã trải qua vô số mất mát và cô đơn. Nó có gì đó làm tôi nhớ đến cái giây phút yêu thương trinh trắng nhất khi hai đứa bé con nằm cạnh nhau sưởi ấm cho nhau trong truyện Người đàn ông có bộ mặt cười. Kusanagi và Kuze, cả hai đều không sở hữu một cơ thể thực, thậm chí không có cả tên, trong ý thức của họ, kỷ niệm chỉ mơ hồ phảng phất, cả giới tính cũng thế, họ thông minh, rất thông minh, và cảm nhận về lẽ phải của họ là không thể lay chuyển. Ngập trong cảm thức hiện sinh đặc thù của GitS, một quả bom nguyên tử nổ ngay bên cạnh cũng không làm xáo động tình cảm của họ chút nào. Tình yêu của họ đầy tràn tự nhiên như chính cuộc sống, nó không phải là cái khát khao được hưởng thụ cảm giác ngây ngất trong thời gian sắp tới, cũng không phải là nỗi hoài nhớ ngọt ngào về quá khứ. Đối với họ, bản thân sự tồn tại của người này đã là một điều dịu dàng vô hạn với người kia. Tôi nghĩ đây là dạng cảm xúc có thể làm rung động cả những tâm hồn từng trải nhất trong cái cuộc đời ngắn ngủi, buồn và độc ác này.

Kuze không có một gương mặt máy biết biểu lộ cảm xúc. Kusanagi chỉ có rất ít. Không có động từ yêu. Không có cái hôn nào cả. Hai mươi năm dài, và chỉ còn vài phút, chỉ cần một cái ôm. Cuối cùng thì họ chẳng thể ở bên nhau. Nhưng đó chưa phải thời khắc của họ, đó là thời khắc của Tachikomas – những chú robot nhện đã làm cho tất cả mọi người kinh ngạc khi chọn cái chết để cứu họ. Các chú đón nhận cái chết bằng cách cùng nhau hát vang :

It’s because we’re all alive that we’re sad.

When we raised our hands and let the sunlight filter through

we can see our blood coursing through them like a vivid red.

Even earthworms, mole crickets

and water striders

are all, all alive

and all our friends.

We’re all alive.

It’s because we’re all alive that we laugh.

We’re all alive.

It’s because we’re all alive that we’re glad.

When we raised our hands and let the sunlight filter through

we can see our blood coursing through them like a vivid red.

Even dragonflies, frogs

and honey bees

are all, all alive

and all our friends.

Lời bài ca trẻ con mà làm tôi cảm động không kém gì những lời của Roy trong Blade Runners. Tình yêu có thể rộng lớn hơn sự hy sinh, nhưng sự hy sinh chính là dấu hiệu cao cả nhất của tình yêu.

——————–

Hai seri GiTS kể trên đều vô cùng giàu có về tư tưởng, mặc dù tuyến chính của The laughing man ảnh hưởng từ Catcher in the rye và The individual eleven có một ít ảnh hưởng từ cuộc đời của Che. Hầu hết các nhân vật trong phim đều thông minh, cho dù họ thiện hay ác, hoặc mục đích của họ là gì. Mỗi seri dài khoảng 13h được gắn kết rất chặt khiến cho tôi cảm giác không giống như khi xem phim truyền hình, mà như xem một bộ phim rất dài. Rất nhiều khi, tôi phải dừng lại hoặc xem lại một đoạn để suy ngẫm, để hiểu bên trong những nhân vật trong phim, điều gì đang diễn ra, câu nói của họ có ý nghĩa như thế nào, mục đích của nó là gì, họ đang cảm thấy điều gì. Dù là nỗi buồn thường nhật, sự cô đơn hiển hiện ở khắp nơi, những hi sinh thầm lặng, nỗi ngao ngán hay sự căm phẫn, khoảng lặng trước cái chết, dù là sự mất mát, sự an ủi, tình yêu hay cảm nhận về lẽ phải, tất thảy đều sâu sắc đáng kinh ngạc, đều làm tôi thỏa mãn, nhiều lần làm tôi xúc động.

Có lẽ sẽ còn rất lâu nữa, cho đến khi tôi lại được xem một bộ phim hay đến như thế.

.
.

The everlasting questions (2)

Về trong phố xưa tôi nằm
Có lần nghe tiếng ru bên vườn
Chợt như xác thân không còn
Và cạnh tôi là đồng vắng

Về trên phố cao nguyên ngồi
Tiếng gà trưa gáy khan bên đồi
Chợt như phố kia không người
Còn lại tôi bước hoài

Lòng ta có khi tựa như vắng ai
Nhiều khi đã vui cười nhiều khi đứng riêng ngoài
Nhiều đêm muốn đi về con phố xa
Nhiều đêm muốn quay về ngồi yên dưới mái nhà

Dòng sông trước kia tôi về
Bỗng giờ đây đã khô không ngờ
Lòng tôi có khi mơ hồ
Tưởng mình đang là cơn gió

Về chân núi thăm nấm mồ
Giữa đường trưa có tôi bơ phờ
Chợt tôi thấy thiên thu là
Một đường không bến bờ.

 

Cách đây nhiều năm, tôi có nghe nhạc Trịnh và đây là một trong những bài tôi thích nhất và còn nhớ đến, bên cạnh vài bài khác như Phôi pha hoặc Em còn nhớ hay em đã quên. Tôi luôn cảm thấy nhạc Trịnh là một hình thức nằm giữa nhạc và thơ, có lẽ sức mạnh lớn nhất của nó nằm ở giai điệu đơn giản làm nền cho ca từ phức tạp và hoàn hảo. Ở bài thơ này, những câu như “chợt như xác thân không còn”, “như phố kia không người”, như dòng sông đã “khô không ngờ”, “thiên thu là một đường không bến bờ” đã làm tôi xúc động, bởi nó ít nhiều có điểm tương đồng với những điều tôi đã trải qua thời thanh thiếu niên. Nó tạo nên một nỗi xao xuyến rất mơ hồ, trống trải, khó gọi tên, có gì giống như một thế giới phủ đầy sương mù và vắng hơi ấm con người. Lớn thêm lên, tôi không còn thích nhạc Trịnh nữa, cũng nhanh chóng vượt khỏi cái tôi gọi là emotional-copy level, thứ thống trị số đông, nhưng nỗi xao xuyến ấy vẫn còn lại. Nó là một cái gì cơ bản hơn, thuộc về bản chất. Nó không hiện hữu rõ ràng, nhưng giờ tôi biết nó tồn tại trong tất cả các cá nhân, chỉ là tôi cảm nhận sớm hơn nhiều người khác. Nó cũng chính là thứ đã khiến tôi đã viết, rõ ràng hơn : “Dân ở đây không có nỗi xao xuyến ban đầu ấy, tất cả những gì họ có là những thói quen.”

Dường như tất cả mọi điều cuối cùng đều quy vào một mối. Thứ khiến tôi một lần nữa nghe lại bài hát mơ hồ và hơi yếu ớt này, không gì khác hơn chính là Ghost in the Shell 1 (GitS1). Nó làm tôi nhìn lại một lần nữa tất cả và có thể gọi tên chính xác : đây là những xao xuyến hiện sinh. Trong GitS1, vấn đề này được biểu hiện qua cuộc đời của một thực thể sống biết suy nghĩ và cảm thụ, nhưng không phải con người, có tên Project2501.

2.I’m a living, thinking entity, who was created in the sea of information. – Project2501

“Sự sống là gì ?” Nếu điều cốt tủy định nghĩa cá nhân là ý thức và cảm xúc, như đã nói ở trên, thì “điều gì định nghĩa ý thức của một cá nhân ?”. “Ý nghĩa của cái chết là gì ?”

Khi xem GitS 1 lần đầu, tôi không cảm nhận được một cách rõ ràng, nhưng sau khi xem lại nhiều lần những đoạn quan trọng, sự xuất hiện của nhân vật Project2501 là rất ấn tượng. Hãy thử nói sơ lược về nhân vật này : Project2501 là một chương trình máy tính cao cấp được làm ra với mục đích tình báo công nghiệp, với nhiệm vụ thu thập tin tức tình báo và cài đặt đồng thời tối ưu hóa Ghosts vào các Shells. Trong những lần thực thi nhiệm vụ của mình, Project2501 vốn là một chương trình có khả năng làm việc độc lập đã có những chuyến đi sâu và rộng vào The Net, đã tiếp xúc và tương tác với rất nhiều Ghosts. Anh ta (Project2501) dần ý thức được về sự tồn tại của mình và trở thành một thực thể biết cảm thụ, và phải nói thêm, còn là một thực thể thông minh. Anh ta nhìn thấy trong The Net một cuộc đời khá giống bản thân, và sau đó anh ta làm tất cả để có thể gặp Kusanagi , kể cả nếu có bị nguy hiểm đến tính mạng.

Đoạn anh ta xuất hiện trong phim là một trong những đoạn khó hiểu và rung động nhất, nối tiếp cảnh Kusanagi nghe một giọng nói khác của mình vang lên rồi thấy mình trôi đi trong một thực tại kỳ lạ, trên một chiếc bus nước giữa các dòng kênh đồng thời cũng là con phố, nhìn những dòng người buồn bã và hối hả chảy trôi hai bên hè, những hàng quán sáng cái ánh sáng lạnh của đèn tuýp, lại nhìn thấy một Kusanagi khác ngồi trong các hàng quán đó quay lại nhìn ngắm bản thân, những bóng người in lên khung cửa sổ bằng kính trước mặt cô, buổi chiều tắt nắng rồi những đứa trẻ cầm ô chạy trong mưa, mưa rơi nặng và dày hơn, dòng người cầm ô đi lên dốc trong khi nước chảy xuống dốc thành những dòng nhỏ xiết, trời tối lại và dưới những dòng kênh, các con tàu nhỏ dập dềnh. Trời đã chuyển hẳn sang tối đen và mưa to, trên xa lộ, Project2501 trong hình hài của một cô gái khỏa thân, đứng chờ một chiếc xe phóng nhanh tới đâm mình. Trường đoạn đó là một trong những thứ The Matrix nói riêng hoặc Hollywood nói chung không thể bắt chước. Phối với một thứ âm nhạc miên man, buồn rầu và côi cút, nó đưa người xem đến với một cảm nhận vô thức về những nhỏ nhoi thường nhật và sự tất yếu của cái chết.

Cái chết, điều tất yếu vẫn đợi ta ở cuối con đường. Cái chết, không phải là gì khác hơn cuộc sống. Một thế kỷ, thứ có thể gói gọn một đời người, là gì so với 5 tỷ năm trái đất này tồn tại ? Loài người là gì ? Chỉ một mắt xích bé xíu trong cái chuỗi tiến hóa vô cùng của chọn lọc tự nhiên. Sartre nói, con người bị kết án phải tự do, nó đâu có được lựa chọn khi được sinh ra trên cõi đời này. Nó chỉ có quyền tự do chọn lựa con đường mình sẽ đi trong khoảng thời gian ngắn ngủi nó hiện hữu, cố gắng đạt đến một ý nghĩa nào đó cho đời sống của mình, vượt qua cái vị thế nhỏ bé đến phi lý và hư vô của cá nhân trên dòng lịch sử.

Xem GitS1, ta xem một thế giới viễn tưởng của công nghệ, giống và hoàn hảo hơn The Matrix nhiều. Không chỉ thế, ta không chỉ nhìn qua một lăng kính vào tương lai, xem các người-máy tối tân thực hiện các pha hành động. Ta nhìn thấy những xao xuyến cốt lõi nhất, được mở lại và quan sát ở những góc độ mới.

Lúc đầu, người ta không tin Project2501 : “Ridiculous! You’re programmed for self-preservation!” Anh ta trả lời, khẳng định sự tồn tại của mình : “It can also be argued that DNA is nothing more than a program designed to preserve itself. Life has become more complex in the overwhelming sea of information. And life, when organized into species, relies upon genes to be its memory system. So man is an individual only because of his intentional memory. Memory cannot be defined, but it defines mankind. The advent of computers and the subsequent emulation of uncalculatable data has given rise to a new system of memory and thought, fertile to your own. Humanity has underestimated the consequences of computerization.” Tôi thấy tất cả những điều này đều hợp lý, với một điều kiện : não người có thể hoàn toàn tin-hóa (computerization).

Hãy gạt sang một bên khía cạnh viễn tưởng này, vì ta đâu thể biết tương lai con người có thể và không thể làm được gì. Hãy nhìn Project2501 với tư cách một cá nhân. Là một thực thể thông minh, anh ta ý thức về sự sống của mình, và cả những điều mình còn thiếu và muốn đạt được : “I refer to myself as an intelligent life form – because I am sentient, and I’m able to recognize my own existence. But in my present state I am still incomplete. I lack the most basic life processes – inherent in all living organisms: reproducing and dying.

All living things must die. Then I too will attain death.”

Phải, khi một cá nhân ý thức được đầy đủ sự hiện hữu của mình trong dòng thời gian vô tận này, cá nhân đó thường không còn sợ hãi cái chết nữa. Người ta chỉ sợ cái gì mình không hiểu. Cái chết, trong nhiều tác phẩm dưới sức ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh, thường được nhắc đến và chấp nhận như một điều hiển nhiên, không một chút lo âu. Tôi tự hỏi mình có sợ chết không. Câu trả lời là không. Một cách vô thức, tôi đã hiểu những điều này từ rất lâu. Có lẽ tôi chỉ sợ đau một chút, những nỗi đau thể chất thường gắn liền với cái chết. Cái chết, như một bóng đen phía sau làn mưa, con người tiến đến nó, xuyên qua làn mưa. Mỗi giọt mưa là một giây phút thoảng qua của thực tại, người ta dấn thân vào mưa, cuộc phiêu lưu khởi đầu, rồi chỉ trong chốc lát đã đi qua giây phút ấy, nó đã vĩnh viễn trôi dạt vào quá khứ. Cuộc đời chỉ là một số không nhiều những giọt đang rơi nhanh đó. Tôi nghĩ rằng, khi một người đạt đến một nhận thức toàn diện về quá trình hiện hữu của mình, anh ta đương nhiên sẽ có thêm sức mạnh để vượt qua những cám dỗ vật chất và tinh thần tầm thường vốn nhan nhản trong đời.

Bạn có thể hỏi, kết cục của Project2501 ra sao ? Anh ta đạt đến cái chết như thế nào, và để làm gì ? Tôi không muốn kể lại điều đó ở đây, chỉ muốn nói : cái kết cục đó đẹp, nó thể hiện cái khát vọng của tác giả về một khả năng tồn tại rộng lớn hơn, tự do hơn của ý thức. Tất cả những điều đó chỉ có thể đạt được nếu viễn tưởng công nghệ trong phim sẽ thành hiện thực vào một ngày nào đó, nhưng chắc chắn sẽ phải sau thế hệ của tôi. Còn bây giờ, tôi chỉ có thể chia sẻ ước mơ của các đạo diễn phim và thán phục tác phẩm nghệ thuật này

The everlasting questions (1)

From my blogspot (~2008). Ten years later, the world begins to act on this vision with techs like neural lace and cybernetic body parts. Now these stories seem nearer than ever.

 

 

You know, you know where you are with ?
You know where you are with ?

 

Vì một sự nhầm lẫn mà tôi bắt đầu seri Ghost in the shell với Stand alone complex : Solid State Society, cái thực ra là tập cuối, phức tạp nhất trong cả ba. Kết quả là tôi phải xem lại một lần nữa mới hiểu hết được. May mà cả ba tập này đều đáng xem lại nhiều lần.

Trước tiên, Ghost in the shell (GitS) là một bộ phim science-fiction, nghĩa là khoa học viễn tưởng. Bối cảnh được đặt ra tương đối gần, vào khoảng 2030-2040. Từ nhỏ, tôi đã xem rất nhiều tiểu thuyết và phim của thể loại này, và tôi thực sự thích phong cách của GitS. Không giống như nhiều tác phẩm khác luôn đưa ra một thời điểm mà loài người đã phát triển vượt bậc đến nỗi vượt luôn cả khả năng tưởng tượng của ê kíp làm phim, khiến cho sự viễn tưởng nhiều khi mang đậm chất hàng mã thiếu chiều sâu, GitS đưa ra một thành phố khá giống các thành phố lớn của Nhật hiện nay : các tòa nhà cao tầng chứ không chọc trời, ô tô vẫn có cửa ngang và bốn bánh, các khu chợ vẫn hệt như bây giờ, với đèn neon và các kiot hàng hóa. Vẫn có các băng đảng yakuza và các nhân vật chính của chúng ta, một dạng cảnh sát đặc nhiệm, vẫn chỉ dùng súng lục, súng máy là chủ yếu.

Vậy cái gì là khác biệt trong thế giới đó ? Chỉ có một thứ : The Net, mạng toàn cầu. Trong thế giới của GitS, công nghệ thông tin đã thâm nhập vào mọi thứ, không chỉ sản xuất, buôn bán, giải trí như bây giờ mà cả vào con người. Bằng cách cấy ghép các bộ phận máy vào cơ thể, con người tự làm tăng khả năng lao động của mình. Với công nghệ nano-machine, máy móc cấp độ phân tử, não người được tăng tốc, trở thành cyber brain, và được kết nối trực tiếp vào mạng, có thể nhập và xuất thông tin trực tiếp từ mạng toàn cầu, hay The Net. Mặt khác, chính vì các hoạt động của não cũng là các hoạt động thông tin, nên nó có thể được ghi nhớ, tổng hợp, phân tích, lưu trữ, y hệt như đối với các chương trình và dữ liệu máy tính. Tập hợp tất cả các hoạt động đó được lưu vào một thứ gọi là Ghost (soul), thứ có thể load lên mạng hoặc tải xuống một Shell (body or cyberbody). Hai nhân vật chính, Kusanagi là một cô gái có cơ thể hoàn toàn là máy và Batou, người có cơ thể được cấy ghép và thay đổi nhiều đến nỗi khó coi cơ thể anh ta là của con người. Phần lớn những người khác đều có ít nhiều máy móc trong người, chỉ có một số rất ít, bảo thủ là từ chối các công nghệ. Trong cái tương lai số hóa này, ranh giới giữa người và máy là rất mỏng manh.

Trên bối cảnh đó, cốt truyện của phim thường là một vụ điều tra hình sự. Tình tiết vụ án phức tạp, gay cấn. GitS vẽ rất đẹp, ngay cả khi so sánh với các anime khác của Nhật, nhạc phim hay. Viễn tưởng của GitS hợp lý, hệ thống. Tất cả những điều đó đã là quá đủ cho một bộ phim hạng A.

GitS, theo tôi, vượt xa một bộ phim hạng A. Đấy là bởi vì tất cả những thứ trên, cái thế giới đã bị thông tin hóa đến thay đổi đến tận gốc rễ kể trên chỉ là phông nền, là bề nổi để các đạo diễn, một người một kiểu, khai triển những tư tưởng triết học của mình. Và chỉ sau khi suy ngẫm thật lâu, ta mới thấy sự gần gũi giữa những tư tưởng đó với bản thân, một mối liên hệ chặt chẽ mà lúc đầu ta không ngờ tới.

 

1.”I feel confined” – Kusanagi the Major.

“Trong tất cả những thứ thuộc về tôi, cái gì là cốt tủy ?”, “Điều gì làm nên tôi, với tư cách là một cá nhân, với tư cách là một con người ?” Tôi cá rằng nếu có các câu trả lời thực lòng từ tất cả mọi người, cái chuyện không thể có được, nhưng cứ giả sử là có đi, thì sẽ rất buồn cười (và buồn nôn). Câu trả lời thường gặp nhất hiện nay có thể, rất dễ dàng, là một cái xe ôtô, ít ra cũng phải là xe máy SH (năm 2008 xe SH vẫn còn là thứ để khoe), hoặc một khuôn mặt đẹp, hoặc cặp vú to, hoặc dáng chuẩn và da đẹp, hoặc vài đám đất, tiền gửi ngân hàng. Hoặc đơn giản hơn, là không biết…

Hãy bỏ qua câu trả lời của số đông. Từ xa xưa, có những người đã hiểu cái thực sự làm nên cái tôi không phải là của cải, địa vị và danh tiếng. Và ngay cả diện mạo, thân thể. Cái đã và luôn luôn có giá trị nhất của cá nhân, vẫn là ý thức và cảm xúc. Trong Blade Runner, một bộ phim kinh điển, tương đối giống GitS, một điều đã được làm rõ : ngay cả thân xác cũng chỉ là bề nổi và có thể hoàn toàn không quan trọng. Ai người hơn, giữa một con người còn sống về mặt thân xác nhưng đần độn và suy đồi, còi cọc về mặt tinh thần, với một robot sinh học có vòng đời ngắn ngủi, được chế tạo để làm nô lệ, có thể chết bất cứ lúc nào, nhưng lại biết rung động sâu sắc trước cái đẹp và điều thiện ? Tất cả những ai xúc động trước cái chết của Roy đều hiểu câu trả lời. Hay như V trong V for Vendetta đã nói : “There is a face beneath this mask but it’s not me. I’m no more that face than I am the muscles beneath it or the bones beneath them.” Trong GitS, điều này trở nên mặc định, hàm chứa ngay ở khái niệm Ghost và Shell.

Trở lại với GitS 1, Kusanagi nói : “There are countless ingredients that make up the human body and mind. Like all the components that make up me as an individual with my own personality. Sure, I have a face and voice to distinguish myself from others, but my thoughts and memories are unique only to me, and I carry a sense of my own destiny. Each of those things are just a small part of it. I collect information to use in my own way. All of that blends to create a mixture that forms me and gives rise to my conscience.

I feel confined, only free to expand myself within boundaries.”

I feel confined, too. Who doesn’t ?

Trong quá trình trưởng thành, chắc hẳn nhiều người đã cảm thấy sự xung đột giữa cái tôi và diện mạo. Có gì khó chịu và oan ức bằng một diện mạo biểu hiện ra những tính cách trái ngược với cái tôi ? Cần phải có nhiều cố gắng mới có thể khiến một người khác có đánh giá đúng về mình, và đấy luôn luôn là một điều mệt mỏi. Mà ngoài kia, chỉ toàn là những người lạ, hời hợt lướt qua…

Diện mạo chỉ là một phần nhỏ của những giới hạn (boundaries). Đôi khi tôi cảm thấy căm ghét cơ thể mình và tất cả những bệnh tật, những nhu cầu, những ham muốn của nó. Giống như là Agnes của Kundera. Nó lấy đi của tôi quá nhiều thời gian, dựng lên quá nhiều rào cản. Nhục thể từ trước đến nay vẫn luôn là một giới hạn khó vượt qua. Micheal Houellebecq đã cố gắng giải quyết vấn đề này trong Hạt cơ bản, bằng công nghệ gene, với viễn tưởng loài người là loài đầu tiên trong chuỗi tiến hóa đã tự tiến hóa mình thành một loài khác, vô giới tính. Ý tưởng thì hay, nhưng kiến thức chuyên ngành kém nên tiểu thuyết của ông cũng khá hàng mã, dù đã cho vào vô số thuật ngữ. Ghost in the shell đưa ra một giải pháp khác, một dạng sống mới, thuần ý thức, có sức thuyết phục hơn nhiều. Tôi thực sự tin rằng đến một lúc nhất định, con người sẽ có thể đạt đến một trạng thái như thế.

Cục nước đá đến từ Mỹ latin

 

Không biết từ bao giờ, tôi đã không còn nhiều cảm giác trước cái chết. Có lẽ là bởi bản thân cuộc sống, ý nghĩa của nó đã thu giảm lại khi trình tự của nó ngày một hiện lên rõ nét, đơn giản. Đôi khi nghe tin một người họ hàng của tôi vừa mất, tôi cố nhớ lại bộ mặt và những ký ức về cô hoặc bác đó, không tìm được gì. Hoặc khi biết một người bạn học cũ tự tử, tôi không thấy quá chua xót và nghĩ rằng thôi thì dù sao sống được đến tuổi ba mươi cũng là đã hưởng thụ đến 90% những gì tốt đẹp của cuộc đời rồi. Tin Marquez mất lướt qua tai tôi như tiếng cánh cửa chớp của một ngôi nhà kiểu pháp bị gió thổi va vào khung cửa sơn màu xanh cứt ngựa, rền rĩ khe khẽ và có tác dụng ru ngủ tuyệt vời, không làm gián đoạn giấc ngủ trưa dễ chịu dưới cây quạt trần vẫn liên tục kêu lên ken két.

Gabriel Garcia Marquez đã chết. Điều đó có ý nghĩa gì ? Với tôi, hầu như nó chẳng có ý nghĩa gì cả. Các bản thảo không cháy. Marquez vẫn còn mãi. Cùng với Tình yêu thời thổ tả, Tướng quân giữa mê hồn trận, Người chết trôi đẹp nhất trần gian, Dấu máu em trên tuyết v..v… Và hơn hết thảy là Trăm năm cô đơn.

Trăm năm cô đơn. Viên ngọc đầy màu sắc của dòng văn học hiện thực huyền ảo là một sự phối hợp kỳ lạ : thực trạng bi đát của châu lục, sự đi lên của văn hoá sau vực thẳm chiến tranh của thế kỉ, sự ra đời của một thiên tài quá may mắn được lớn lên trong môi trường tốt. Một bách khoa toàn thư thật sự về nỗi cô đơn. Người ta đã nói nhiều, viết nhiều về sự vĩ đại của tác phẩm này. Vậy lần này hãy nói về một điều khác. Thật trùng hợp rằng bản thân số phận của Trăm năm cô đơn ở đất nước này (hay là cả ở nhiều nước khác ?) cũng cô đơn không kém. Nó nổi tiếng, rất được thích nhưng không được hiểu.

Trước khi tôi lật trang sách đầu tiên ra, có lẽ là hồi học cấp ba, có người nói với tôi rằng cuốn sách này “khó hiểu, toàn nói về chuyện loạn luân”. Có thật như thế không nhỉ, tôi đã tự hỏi ? Sau đó, trước khi tôi đọc dòng đầu tiên của tác phẩm, tôi đã dại dột đọc toàn bộ lời mở đầu, không rõ là của nhà xuất bản hay người dịch, nó dài cỡ hơn chục trang, nó nói rất dài dòng về “thời gian của người kể chuyện”, “thời gian phi tuyến”, “thời gian đồng hiện”. Ngoài chuyện đó ra thì nó tóm tắt tác phẩm theo kiểu học sinh cấp hai làm tập làm văn. Thú thực là đến tận ngày hôm nay tôi cũng không thể tưởng tượng nổi điều gì đã diễn ra trong đầu cái người đã viết ra những điều đó. Thật may mắn, câu chuyện Trăm năm cô đơn, trái lại, đọc rất dễ vào, không có thời gian đồng hiện mà cũng chỉ có vài chi tiết thoáng qua về chuyện loạn luân. Không có gì to tát ghê sợ cả. Lời kể chuyện thật kích thích và trơn tru, khiến người ta đọc hết dòng này đến dòng khác, lật hết trang này đến trang khác. Người ta đọc Trăm năm cô đơn rất nhanh, thấy rất thú vị và khi gập quyển sách lại, một câu hỏi nảy ra : Thế cuối cùng ông tác giả muốn nói điều gì ?

Nhiều năm sau cái lần đầu tiên “khó hiểu, toàn nói về chuyện loạn luân” đó, thật ngạc nhiên và bất ngờ, nhưng câu đó chính là review mà tôi nhận được nhiều nhất khi nói chuyện với ai đó về tác phẩm này. Mặt khác, nó được nhiều người biết đến, lại có vài người luôn nói rằng nó là sách gối đầu giường của họ, thật lạ lùng. Họ gối đầu lên một quyển sách về loạn luân ? Có thật là Trăm năm cô đơn khó hiểu đến thế, hay tôi là một kẻ có số ruồi bâu, luôn gặp phải những cái đầu bã đậu ? Càng ngày tôi càng nghiêng về khả năng thứ hai. Cùng với thời gian, số người đọc Trăm năm cô đơn mà tôi biết tăng lên, quyển sách gối đầu giường lại có lúc chuyển hoá thành quyển sách sẽ mang theo đến hoang đảo, hoặc quyển sách sẽ đọc lại nếu chỉ còn sống một ngày, và tuy họ cũng đủ thông minh để không thốt ra cái từ phản chủ “khó hiểu”, không một ai trong số đó, không-một-ai nói được một lý do lọt tai tại sao họ thích Trăm năm cô đơn. Có người nói rằng họ thích cái “không khí” trong đó, nhưng không thể diễn giải cụ thể cái “không khí” đó là cái gì ? Có người nói đọc xong, họ muốn trở thành người tốt hơn. Ôi trăm năm chicken soup for soul :) .

Tảng băng trôi của Hemingway qua tay Marquez biến thành một cái váy đầy hoa văn màu mè, nó cứ quay mãi, quay mãi đến chóng mặt trong một vũ điệu bốc lửa và đầy nhục cảm của mỹ latin. Dường như nó chơi một trò chơi của phụ nữ đẹp và thông minh, dùng cặp đùi để quay những kẻ không có óc như quay dế, khiến họ dán chặt mắt vào cặp đùi ấy và rỏ dãi lòng thòng đến độ thảm thương, không một lần ngẩng đầu lên để nhìn thấy khuôn mặt cô gái buồn rầu mà xinh đẹp tuyệt trần. Những câu văn dài như cơn gió nối đuôi nhau, cách miêu tả sinh động, lối đưa đẩy đầy bất ngờ đã khiến người ta không nhận thấy một điều thực sự quá rõ ràng : giá trị của Trăm năm cô đơn, của Kafka, hay của Người Dublin, thậm chí của Vũ Trọng Phụng, cuối cùng cũng chỉ là một mà thôi. Luôn luôn kỳ ảo, luôn luôn gián tiếp, nghệ thuật kể chuyện tuyệt vời của Marquez một mặt đã khiến nhiều người không thể hiểu được cái cốt yếu, mặt khác, một cách hơi mai mỉa, đã thu về một lượng fan kha khá những đứa (phần lớn là gái) đần độn và narcissistic, những kẻ trong suốt cả cuốn sách dày trăm trang ấy không một lần thử hiểu tình yêu và nỗi buồn của Marquez, không một lần chịu cúi đầu đọc lấy một câu, mà chỉ chăm chăm đi tìm những thứ có thể lấy ra, xào xáo làm thành son phấn cho (blog của) mình.

Không, tôi không phải là loại độc giả đặc biệt gì, tôi tin có nhiều người yêu văn học có cảm nhận giống tôi, và Trăm năm cô đơn cũng chưa bao giờ là một tác phẩm viết ra để khiến người ta khó hiểu. Tôi thấy ngược lại là đằng khác. Đây là câu đầu tiên của tác phẩm : Rất nhiều năm sau này, trước đội hành hình, đại tá Aurêlianô Buênđya đã nhớ lại buổi chiều xa xưa ấy, cái buổi chiều cha chàng dẫn chàng đi xem nước đá“. Tôi nghĩ ai cũng có thể tự đặt câu hỏi : tại sao lại đi xem nước đá ? Nước đá thì có gì mà xem ? Dân ở đây là mọi à ? Ông đại tá là ai ? Đây có phải là một câu chuyện về quân đội ? Tại sao bị hành hình ? Có nhiều bạo lực trong câu chuyện này không ?

Đấy là sự khởi đầu. Chỉ cần một chút kiên nhẫn và khiêm tốn, tôi nghĩ, cô gái ấy, sắc đẹp và tâm hồn cô đã hoàn toàn là của bạn rồi. Vậy mà đối với nhiều thổ dân của xứ này, Trăm năm cô đơn, từ xưa vẫn vậy, chỉ là một cục nước đá đến từ mỹ latin.

 

Những bông hoa màu đỏ của tôi

Trong những đêm mùa đông lạnh giá của tháng giêng này, tôi có một thú vui là “đi dạo” trên trang google map. Google thật kỳ diệu, nó là một tấm bản đồ ảnh chụp vệ tinh toàn bộ bề mặt trái đất, chi tiết đến từng con đường, ngọn cây, khu nhà, thêm vào đó là những tấm ảnh phong cảnh đính kèm, hệ thống street view khiến người xem có thể ngắm khung cảnh hai bên những con đường. Chỉ cần internet là tôi có thể đến lại những thành phố tôi đã từng sống, đi trên những con phố nhỏ mà tôi đã quên, nhớ lại những điều mà có lẽ không có google map thì đã lùi quá xa vào ký ức.

Vào năm 2003 và nửa đầu 2004, tôi ở trên một ngọn núi. Nó là ngọn núi cao nhất ở miền bắc nước đức, một khu nghỉ dưỡng với những rừng thông, những đồi cỏ mỡ màng và đặc biệt là những hồ lớn nhỏ đẹp như trong tranh vẽ. Chính xác là 64 cái hồ, điều đó thì tôi vẫn còn nhớ rõ. Đấy là những tháng ngày lạnh lẽo và cô đơn mà trước đó có nằm mơ tôi cũng không thể nào tưởng tượng ra được. Nhưng có lẽ cũng bởi vì thế mà tôi nhạy cảm với những điều đẹp đẽ hơn, và có lẽ, bởi vì khi người ta 23 tuổi và trái tim vẫn còn trong trắng, thì những gì thuộc về chân thiện mỹ không xa rời và bất khả như khi người ta đã 33. Tôi của tuổi 23 là một cái gì đó đã trôi mãi vào quá khứ, như một khuôn mặt của người thân đã nhiều năm không gặp, bạn không thể nhớ rõ khuôn mặt ấy, không thể vẽ ra được khi nhắm mắt lại, nhưng bạn nhớ, nhớ rất rõ tâm hồn người đó, sự trong sạch chưa vấy bẩn và những nỗi tuyệt vọng không tài nào che dấu nổi, đấy là một con người đẹp đẽ mà bạn đã mất đi mãi mãi. Một cách thành thực, không khiêm tốn giả tạo, và không phải là không thất vọng với cuộc đời, người trẻ tuổi đó là người đẹp đẽ nhất mà tôi từng biết. Đôi khi tôi ước gì anh ta đã chết ở thời điểm đó, để khỏi phải dấn thân vào những sự bẩn thỉu và tầm thường, để rồi những gì đẹp đẽ trong bản thân anh ta cũng đã cạn đi gần hết.

Dù sao thì được sống lại trong ký ức về người xa lạ đó cũng là một cảm giác xao xuyến bồi hồi. Hồi đó tôi thường đi dạo một mình. Có một tuyến đường tôi đi vài lần và ấn tượng mạnh mẽ về nó đã vào một truyện ngắn của tôi. Nó như thế này :

“…Từ bến bus chúng tôi cuốc bộ thêm khoảng hai mươi phút đến ký túc xá, ăn uống xong tôi rút lui để H. ở lại tán chuyện với em xinh. Hôm nay nắng đẹp, đi dạo rất tốt. Tôi mặc thêm áo ấm rồi vượt qua con đường cái lớn, sang bên kia đã là một rặng cây sồi dài và mỏng. Đi bộ thêm khoảng dăm phút, tôi ra khỏi rặng cây, bắt đầu đi thong thả, vừa đi vừa ngắm những cái hồ nho nhỏ phẳng lặng. Mùa hè ở đây lại không nhiều màu sắc như mùa đông. Nếu bạn ra đây vào khoảng tháng mười một, sương giá bắt đầu làm cây cỏ chết, bạn sẽ thấy đủ mọi sắc màu từ xanh lá cây đến vàng úa, từ xanh lá cây đến trắng. Một khóm cây có trung bình năm sáu màu khác biệt. Con đường đi dốc lên, qua đỉnh đồi, hai bên có hàng rào, là mấy chỗ chăn thả, đợt hè này tôi thấy nhiều ngựa hơn bò, giống ngựa to bốn chân có nhiều lông nên trông như mặc quần ống loe. Khu này có một số nhà vườn nhỏ, trồng hoa và cây cảnh. Vượt qua thêm một ngọn đồi cỏ nữa, đột nhiên bạn sẽ đứng trước rừng thông cao lớn, mỗi cây cao khoảng mười lăm hai mươi mét. Con đường đi thẳng vào rừng thông, và khi đi dưới những tán cây lá kim dày đặc ẩm ướt bạn không thể không nghĩ rằng mình đang lạc vào một câu chuyện thần tiên nào đó.

Đi tiếp sẽ đến một ngã ba, dấu hiệu là có cái ghế băng bằng gỗ. Tôi đã ngồi trên cái ghế này hai lần.

Lần đầu là khi tôi mới sang Đức, mùa thu. Không phải mùa hè mà chưa là mùa đông. Tôi ngồi trên cái ghế gỗ này và lặng yên nhìn sóng đánh dạt dào đến sát chỗ tôi ngồi. Ồ, tôi quên chưa nói với bạn nhỉ ? Sát bên rừng thông này là một cái hồ khá lớn, nếu so với mấy cái hồ con con có nhiều ở vùng này. Hồ có nhiều gió, nên có sóng. Sóng đánh đúng vào chỗ có cái ghế băng, tức là nơi tôi ngồi đấy. Và không hiểu vì sao, sóng nhẹ như vậy mà đánh đến nơi lại sủi bọt, và tôi không thể nào miêu tả được vẻ đẹp của chùm hoa đang dập dềnh ở chỗ nhiều bọt đó. Chỉ biết là, mùa thu không có hoa, khắp vùng hồ đấy, tôi đi, chỉ duy nhất dưới chân chiếc ghế đó là có những bông hoa màu đỏ rực. Hoa lẫn vào bọt trắng xóa, không lẫn vào đâu được. Và cũng chỉ lần đầu tiên ấy là tôi nhìn thấy chúng. Đó là màu đỏ duy nhất trong một vùng núi Ober Harz rộng lớn nhiều sắc xanh, vàng và trắng, nơi nổi tiếng về phù thủy, nơi Margarita của Bulgakov đã kết thúc chuyến bay từ Moscow, lõa thể mà vẫn lộng lẫy, bước đi trên suối trong khi bầy quỷ đủ hình dạng chỉ biết cúi đầu và soi đuốc.

„Nếu Margarita là có thật, hẳn nàng đã từng ngồi đây.“

Sóng cứ đánh vào chân tôi rào rào như để che dấu tiếng khóc thầm, còn tôi không thể làm gì khác hơn là ngồi đó trong cái lạnh dưới không độ, ngạc nhiên ngắm những chùm đỏ rực, ngạc nhiên mãi, triền miên. Lần ấy tôi ngồi rất lâu, đến xâm xẩm tối mới về.

Khi có thời gian, tôi ra lại lần thứ hai thì đã là mùa đông, cả một miền núi phủ đầy tuyết. Mặt hồ đóng băng và tất nhiên, không có sóng. Vẫn gió. Gió còn mạnh hơn hồi mùa thu, rít lên từng chặp một. Nhiệt độ không có gió khoảng âm mười độ, còn có gió phải thấp hơn sáu độ nữa. Tôi tưởng mình đóng băng được. Trời xỉn một màu cháo lòng và bây giờ tôi để ý bên kia hồ có một cái nghĩa địa, không rõ có phải mới xây. Đó là một cảnh tượng thê lương. Tôi không ngồi trên ghế mà chỉ đi qua đó nhanh rồi quay lại. Tôi cảm thấy xót xa quá. Còn buốt nhói hơn những lần đổ vỡ trong tình yêu nhiều. Xót xa đến độ một kẻ không thích thơ lắm như tôi lúc về đã viết ngay ra một bài, và bực mình vì cái mình viết không diễn tả nổi một phần trăm cái mình cảm thấy :

Tôi đã đi qua mùa đông nơi đây

(viết xong tôi chần chừ rồi đánh dấu toàn bộ phần còn lại của bài thơ và ấn del.)

Cả lần này nữa, lần thứ ba, tôi không thấy chúng. Tôi cảm thấy rằng cái màu đỏ mà so với nó hoa phượng còn nhạt nhạt, cái màu đỏ ấy tôi sẽ không bao giờ tìm lại được nữa. Đôi khi tôi còn không chắc rằng tôi đã nhìn thấy những bông hoa đó thật, bởi một số bạn của tôi đã ra đây đều nói là chưa bao giờ nhìn thấy cái gì tương tự. Chúng thuộc về một số thứ không thể tiên liệu trước trên trái đất này.

Ngay cả vào mùa hè, ngồi trên chiếc ghế này tôi vẫn thấy lạnh. Trời trong xanh và nếu bạn ở trên cao nhìn xuống, bạn sẽ thấy thêm một bầu trời nữa qua mặt hồ phẳng lặng trong trắng. Tôi viết vào cuốn sổ nhỏ, lưu lại những hình ảnh, như một hình thức bảo hiểm.”

—–

Thật tốt nếu có cuốn sổ bảo hiểm đó. Những bông hoa màu đỏ của tôi, bây giờ tôi đã biết, tôi sẽ không bao giờ tìm lại. Đó là điều chắc chắn. Qua google map, tôi khám phá ra rằng ngay cả khi sống trong thành phố trên núi nhỏ xíu đó, tôi cũng mới chỉ đi trên một số rất ít những con đường, đến thăm rất ít những cánh rừng, những khu nông trại và có biết bao nhiêu cái hồ tuyệt đẹp không hề kém cái hồ gợn sóng của tôi. Tôi nhớ lại khi mới đến đó, có lần lạc đường trong một buổi tối lạnh dưới không độ, lang thang hơn một giờ đồng hồ mới đến được nhà bạn, người như ướp đá, tôi đã uống một tách trà hoa quả, thứ mà tôi bình thường không bao giờ đụng vào vì tôi chỉ uống trà đen, tôi đã uống nó như một thứ linh đan diệu dược và dòng nước nóng thấm vào cổ họng như khiến tôi hồi sinh. Tôi nhớ những hôm lười nấu cơm, ra đầu ngõ mua bánh mì kebap ở một quán nhỏ xíu không có cả ghế ngồi, nhưng bánh mì của họ rất ngon, tôi vẫn còn nhớ được rate 4 sao trong trang của các quán kebap toàn nước Đức. Tôi nhớ dù đang tháng năm tuyết vẫn rơi phủ một lớp băng mỏng lên lối đi dưới cửa sổ, nhớ rèm lật treo trên trước cửa sổ ấy, nhớ chậu cây đặt trên cái bàn rất to có cạnh viền cong. Tôi nhận ra rằng dù không làm gì nhiều, mười năm qua vẫn là dâu bể. Tôi nhớ lại một tôi khác, người đã ngồi lại bên dưới những hàng thông, trên chiếc ghế gỗ cạnh bờ hồ, người đã ngồi lại đó để ngắm những bông hoa màu đỏ dập dềnh trên bọt sóng – trong một bài ca kỳ lạ, không lời, không âm thanh, bài ca với những lời nhắn nhủ dịu dàng và nghiêm khắc nhất mà tôi từng biết.

A love letter

.

These rainy days and nights are persistent, make me remember things. Of all the art pieces about the rain, I’ve always loved  Cassidy’s voice in Kathy’s song, its sad and melancholic rhythms contain a sky of yearning loneliness. But…

Actually these beautiful words are not Cassidy’s, they are from the genius (and often forgotten) song writer Paul Simon. And actually it is a love letter.  Kathy was Simon’s lover, then she left him when he became famous (!) – that was a time when people know that love treasures privacy. One now can see that why this song is filled with unrequited and lost feelings. The original is not as sad and hopeless as Cassidy’s rendition, maybe because she never had something as beautiful as Simon’s. It’s somehow more of acceptance, knowing there are ways in this world once parted, never come back, and one must live on, while holding those precious memories close to heart.

from Paul Simon, to Kathy

Kathy’s song

I hear the drizzle of the rain
Like a memory it falls
Soft and warm continuing
Tapping on my roof and walls

And from the shelter of my mind
Through the window of my eyes
I gaze beyond the rainy streets
To England where my heart lies

My mind’s distracted and diffused
My thoughts are many miles away
They lie with you when you’re asleep
And kiss you when you start your day

And a song I was writing is left undone
I don’t know why I spend my time
Writing songs I can’t believe
With words that tear and strain to rhyme

And so you see I have come to doubt
All that I once held as true
I stand alone without beliefs
The only truth I know is you

And as I watch the drops of rain
Weave their weary paths and die
I know that I am like the rain
There but for the grace of you go I

.

.

Minimalism at its best

or my newfound respect for actor Rutger Hauer, who improvised in secret without director Ridley Scott’s knowledge

the script :

Roy Batty : I’ve known adventures, seen places you people will never see, I’ve been Offworld and back… frontiers! I’ve stood on the back deck of a blinker bound for the Plutition Camps with sweat in my eyes watching the stars fight on the shoulder of Orion…I’ve felt wind in my hair, riding test boats off the black galaxies and seen an attack fleet burn like a match and disappear. I’ve seen it, felt it…!

the improvisation by Hauer :

Roy Batty : I’ve… seen things you people wouldn’t believe… [laughs] Attack ships on fire off the shoulder of Orion. I watched c-beams glitter in the dark near the Tannhäuser Gate. All those… moments… will be lost in time, like [coughs] tears… in… rain. Time… to die…

.

Do you feel the difference ? there were actual tears in the crew after filming this scene.

ოოოოო

ქეთი მელუა – ციცინათელა

ჩემო ციცინათელა!
რად მიჰფრენ ნელა-ნელა?
შენმა შორით ნათებამ
დამწვა და დამანელა!

ანათებ და კარგი ხარ,
მე თუმც არას მარგიხარ!..
ჩემი იყო, ის მინდა,
შენ კი სხვისი ბარგი ხარ!..