book

One big old illusion

.

And once again after years I traverse your roads,

And once again I find you, the same, unchanged !

Your deadness, immobility, and senselessness.

Your fallow lands

and thatchless cottages and rotten walls.

Your squalor, foul air, boredom, the same dirt as earlier,

and the same servile gaze, now impudent, now dejected.

And although you were freed from slavery,

you do not know what to do with freedom – you, the people…

And everything

Is as it once was.

.

-Turgenev, about Russia, in “The Dream”

.

.

“The problems, dilemmas, that faces this (Russian) society, and above all the intelligentsia, the democrats.

For instance, society and the state. How can one involve society in governing the country ? How is the state to be democratized ?

The Russian land, its characteristics and resources, favor the power of the state. The soil of native Russia is poor, the climate cold, the day, for the greater part of the year, short. Under such natural conditions, the earth yields meager harvests, there is recurrent famine, the peasant is poor, too poor to become independent. The master or the state has always had enormous power over him. The peasant, drowning in debts, has nothing to eat, is a slave.

Simultaneously, it is a land rich in natural resources – in oil, in gas, in iron ore. But these are natural resources whose exploitation and profits are easy to monopolize, particularly by a strong bureaucratic – authoritarian state. In this way both the soil’s poverty and its riches undermine the people and bolster the regime. It is one of the great paradoxes of Russia. – Imperium, Rapuscinski

.

Once again,  it comes to the idea that society’s structure is often geographical. At first it seems strange that men have little influence over their own collective wills. But then it makes a lot of senses, cause a collective mind is not a mind after all. So what does that say about my country, where one can not live for an hour straight without meeting a whore or an imbecile ? Or, mostly, a thug, a lowlife ? People try to rob you the moment you set foot outside your door, in every ways they can think of, in every places possible. Stealing and selling everything one can touch. Everyone has gutter mentality. All the signs point to one conclusion : this country is going to implode, despite all the facades it puts on, despite all the fake riches, expensive beauties and lit cities. Behind its veil, this country eats its own flesh, and it has done that for so many years. But after writing these sentences, I realize that I wrote the thing everyone knows… Oh well, so be it. A paradox of Vietnam.

Advertisements

Cục nước đá đến từ Mỹ latin

 

Không biết từ bao giờ, tôi đã không còn nhiều cảm giác trước cái chết. Có lẽ là bởi bản thân cuộc sống, ý nghĩa của nó đã thu giảm lại khi trình tự của nó ngày một hiện lên rõ nét, đơn giản. Đôi khi nghe tin một người họ hàng của tôi vừa mất, tôi cố nhớ lại bộ mặt và những ký ức về cô hoặc bác đó, không tìm được gì. Hoặc khi biết một người bạn học cũ tự tử, tôi không thấy quá chua xót và nghĩ rằng thôi thì dù sao sống được đến tuổi ba mươi cũng là đã hưởng thụ đến 90% những gì tốt đẹp của cuộc đời rồi. Tin Marquez mất lướt qua tai tôi như tiếng cánh cửa chớp của một ngôi nhà kiểu pháp bị gió thổi va vào khung cửa sơn màu xanh cứt ngựa, rền rĩ khe khẽ và có tác dụng ru ngủ tuyệt vời, không làm gián đoạn giấc ngủ trưa dễ chịu dưới cây quạt trần vẫn liên tục kêu lên ken két.

Gabriel Garcia Marquez đã chết. Điều đó có ý nghĩa gì ? Với tôi, hầu như nó chẳng có ý nghĩa gì cả. Các bản thảo không cháy. Marquez vẫn còn mãi. Cùng với Tình yêu thời thổ tả, Tướng quân giữa mê hồn trận, Người chết trôi đẹp nhất trần gian, Dấu máu em trên tuyết v..v… Và hơn hết thảy là Trăm năm cô đơn.

Trăm năm cô đơn. Viên ngọc đầy màu sắc của dòng văn học hiện thực huyền ảo là một sự phối hợp kỳ lạ : thực trạng bi đát của châu lục, sự đi lên của văn hoá sau vực thẳm chiến tranh của thế kỉ, sự ra đời của một thiên tài quá may mắn được lớn lên trong môi trường tốt. Một bách khoa toàn thư thật sự về nỗi cô đơn. Người ta đã nói nhiều, viết nhiều về sự vĩ đại của tác phẩm này. Vậy lần này hãy nói về một điều khác. Thật trùng hợp rằng bản thân số phận của Trăm năm cô đơn ở đất nước này (hay là cả ở nhiều nước khác ?) cũng cô đơn không kém. Nó nổi tiếng, rất được thích nhưng không được hiểu.

Trước khi tôi lật trang sách đầu tiên ra, có lẽ là hồi học cấp ba, có người nói với tôi rằng cuốn sách này “khó hiểu, toàn nói về chuyện loạn luân”. Có thật như thế không nhỉ, tôi đã tự hỏi ? Sau đó, trước khi tôi đọc dòng đầu tiên của tác phẩm, tôi đã dại dột đọc toàn bộ lời mở đầu, không rõ là của nhà xuất bản hay người dịch, nó dài cỡ hơn chục trang, nó nói rất dài dòng về “thời gian của người kể chuyện”, “thời gian phi tuyến”, “thời gian đồng hiện”. Ngoài chuyện đó ra thì nó tóm tắt tác phẩm theo kiểu học sinh cấp hai làm tập làm văn. Thú thực là đến tận ngày hôm nay tôi cũng không thể tưởng tượng nổi điều gì đã diễn ra trong đầu cái người đã viết ra những điều đó. Thật may mắn, câu chuyện Trăm năm cô đơn, trái lại, đọc rất dễ vào, không có thời gian đồng hiện mà cũng chỉ có vài chi tiết thoáng qua về chuyện loạn luân. Không có gì to tát ghê sợ cả. Lời kể chuyện thật kích thích và trơn tru, khiến người ta đọc hết dòng này đến dòng khác, lật hết trang này đến trang khác. Người ta đọc Trăm năm cô đơn rất nhanh, thấy rất thú vị và khi gập quyển sách lại, một câu hỏi nảy ra : Thế cuối cùng ông tác giả muốn nói điều gì ?

Nhiều năm sau cái lần đầu tiên “khó hiểu, toàn nói về chuyện loạn luân” đó, thật ngạc nhiên và bất ngờ, nhưng câu đó chính là review mà tôi nhận được nhiều nhất khi nói chuyện với ai đó về tác phẩm này. Mặt khác, nó được nhiều người biết đến, lại có vài người luôn nói rằng nó là sách gối đầu giường của họ, thật lạ lùng. Họ gối đầu lên một quyển sách về loạn luân ? Có thật là Trăm năm cô đơn khó hiểu đến thế, hay tôi là một kẻ có số ruồi bâu, luôn gặp phải những cái đầu bã đậu ? Càng ngày tôi càng nghiêng về khả năng thứ hai. Cùng với thời gian, số người đọc Trăm năm cô đơn mà tôi biết tăng lên, quyển sách gối đầu giường lại có lúc chuyển hoá thành quyển sách sẽ mang theo đến hoang đảo, hoặc quyển sách sẽ đọc lại nếu chỉ còn sống một ngày, và tuy họ cũng đủ thông minh để không thốt ra cái từ phản chủ “khó hiểu”, không một ai trong số đó, không-một-ai nói được một lý do lọt tai tại sao họ thích Trăm năm cô đơn. Có người nói rằng họ thích cái “không khí” trong đó, nhưng không thể diễn giải cụ thể cái “không khí” đó là cái gì ? Có người nói đọc xong, họ muốn trở thành người tốt hơn. Ôi trăm năm chicken soup for soul :) .

Tảng băng trôi của Hemingway qua tay Marquez biến thành một cái váy đầy hoa văn màu mè, nó cứ quay mãi, quay mãi đến chóng mặt trong một vũ điệu bốc lửa và đầy nhục cảm của mỹ latin. Dường như nó chơi một trò chơi của phụ nữ đẹp và thông minh, dùng cặp đùi để quay những kẻ không có óc như quay dế, khiến họ dán chặt mắt vào cặp đùi ấy và rỏ dãi lòng thòng đến độ thảm thương, không một lần ngẩng đầu lên để nhìn thấy khuôn mặt cô gái buồn rầu mà xinh đẹp tuyệt trần. Những câu văn dài như cơn gió nối đuôi nhau, cách miêu tả sinh động, lối đưa đẩy đầy bất ngờ đã khiến người ta không nhận thấy một điều thực sự quá rõ ràng : giá trị của Trăm năm cô đơn, của Kafka, hay của Người Dublin, thậm chí của Vũ Trọng Phụng, cuối cùng cũng chỉ là một mà thôi. Luôn luôn kỳ ảo, luôn luôn gián tiếp, nghệ thuật kể chuyện tuyệt vời của Marquez một mặt đã khiến nhiều người không thể hiểu được cái cốt yếu, mặt khác, một cách hơi mai mỉa, đã thu về một lượng fan kha khá những đứa (phần lớn là gái) đần độn và narcissistic, những kẻ trong suốt cả cuốn sách dày trăm trang ấy không một lần thử hiểu tình yêu và nỗi buồn của Marquez, không một lần chịu cúi đầu đọc lấy một câu, mà chỉ chăm chăm đi tìm những thứ có thể lấy ra, xào xáo làm thành son phấn cho (blog của) mình.

Không, tôi không phải là loại độc giả đặc biệt gì, tôi tin có nhiều người yêu văn học có cảm nhận giống tôi, và Trăm năm cô đơn cũng chưa bao giờ là một tác phẩm viết ra để khiến người ta khó hiểu. Tôi thấy ngược lại là đằng khác. Đây là câu đầu tiên của tác phẩm : Rất nhiều năm sau này, trước đội hành hình, đại tá Aurêlianô Buênđya đã nhớ lại buổi chiều xa xưa ấy, cái buổi chiều cha chàng dẫn chàng đi xem nước đá“. Tôi nghĩ ai cũng có thể tự đặt câu hỏi : tại sao lại đi xem nước đá ? Nước đá thì có gì mà xem ? Dân ở đây là mọi à ? Ông đại tá là ai ? Đây có phải là một câu chuyện về quân đội ? Tại sao bị hành hình ? Có nhiều bạo lực trong câu chuyện này không ?

Đấy là sự khởi đầu. Chỉ cần một chút kiên nhẫn và khiêm tốn, tôi nghĩ, cô gái ấy, sắc đẹp và tâm hồn cô đã hoàn toàn là của bạn rồi. Vậy mà đối với nhiều thổ dân của xứ này, Trăm năm cô đơn, từ xưa vẫn vậy, chỉ là một cục nước đá đến từ mỹ latin.

 

Kỳ nhân

Khi tôi gấp lại cuốn sách khá mỏng này của Kawabata, có một điều trở nên rõ rệt hơn nhiều : tại sao ông lại tự sát. Trong các tác phẩm của ông, Meijin, hay The master of Go, hay Kỳ nhân, là một ngoại lệ. Nó không giống các câu chuyện đơn giản và tinh tế khác, nó là một sự kết hợp có phần lạ lùng giữa tiểu thuyết và bút ký.

Meijin dựa trên một sự kiện có thật : vào năm 1938, kỳ nhân cờ Vây Honinbo Shusai, 9 đẳng, đấu một trận “giải nghệ” với Kitani Minoru, 7 đẳng. Honinbo Shusai, tên thật là Hoju Tamura, là bản nhân phường (honinbo) thứ 21 và cuối cùng, ông có nghệ danh Shusai. Năm 1914, ông được giới cờ Vây Nhật bản phong làm Meijin – Kỳ nhân thứ 10 trong lịch sử, chức vị cao nhất trong cờ Vây, đạt được không chỉ vì trình độ số 1 về cờ, mà còn vì được cả giới kính phục và đồng lòng suy tôn. Trận đấu vào năm 1938 đó rất quan trọng và được cả nước Nhật quan tâm. Yasunari Kawabata là một trong những phóng viên hiện trường, ông đảm nhiệm việc tường thuật trực tiếp không chỉ những nước đi của hai kỳ thủ, mà còn về bản thân họ, một bản tường thuật dài kỳ bởi trận đấu kéo dài nhiều tháng. Trận đấu kết thúc với phần thắng thuộc về Kitani Minoru, ông thắng 5 điểm với quân đen.

Kawabata không viết Meijin ngay. Ông hoàn thành tác phẩm vào năm 1952, 14 năm sau. Thoạt nhìn thì Meijin dường như là một tập hợp của những bài tường thuật ngắn và đơn giản đăng trên báo trong quá khứ : các địa điểm, các mốc thời gian, các trọng tài, khách sạn và cả những nước đi đều được giữ nguyên so với thực tế. Thế nhưng Kawabata đã đổi tên Kitani Minoru thành Otake, trong khi giữ nguyên tên của Honinbo Shusai. Điều này có nghĩa là gì ? Kawabata đã hư cấu phần quan trọng nhất của câu chuyện, ông hư cấu hai nhân vật chính. Trận đấu cờ Vây trong thực tế khi vào tiểu thuyết trở thành một cái gì rộng và sâu hơn cờ Vây rất nhiều, đó chính là sự xung đột cuối cùng và quyết định giữa truyền thống và hiện đại, giữa nghệ thuật và sự tính toán, giữa sự lãng mạn đang ngày một phai tàn và logic sắt đá thực dụng. Kawabata nói rằng Kỳ nhân là tác phẩm hay nhất mà ông đã từng viết ra. Có thật như thế không ? Tôi không nghĩ rằng nó hay hơn Ngàn cánh hạc, Xứ tuyết hay Cố đô. Chẳng thể nào hay hơn được. Có lẽ Kawabata nói thế không phải vì nó thực sự hay nhất, mà bởi vì ông muốn nhấn mạnh đến tầm quan trọng của nó đối với cuộc đời ông.

Không khó để nhận ra sự ưu ái gần như trìu mến của Kawabata dành cho nhân vật Kỳ nhân ở trong truyện. Không giống version láu cá và nhiều khi chơi bẩn ở ngoài đời, Honinbo Shusai hư cấu cư xử cao thượng và vị tha hết mực. Ở tuổi cổ lai hy sáu mươi tư, sức khoẻ rất yếu phải nhập viện mấy lần trong suốt quá trình chơi, Honinbo Shusai vẫn luôn kiên nhẫn, nhượng bộ cho một Otake trẻ tuổi hơn nhiều. Cái ông muốn không phải là thắng, mà là tạo ra một tác phẩm nghệ thuật trên bàn cờ Vây với những quân cờ đen trắng. Mỗi kỳ thủ có 40h để hoàn thành ván đấu và Shusai luôn đi nhanh hơn hẳn Otake, hầu như chỉ sử dụng một nửa thời gian so với đối thủ của mình. Đi sau với quân trắng vốn yếu thế hơn, nhưng Shusai đã tạo được một thế trận phức tạp và cân bằng động với Otake. Sự cân bằng đó chỉ bị phá vỡ khi Otake đi một nước “rất tính toán và thực dụng”, môt nước phá vỡ sự hài hoà, phá vỡ dòng chảy của ván cờ. Hiểu nhầm rằng Otake vì quá muốn thắng mà sử dụng tiểu xảo, Shusai thoạt tiên muốn huỷ ván đấu, cho rằng tính nghệ thuật của ván cờ đã mất hết. Nhưng sau đó ông vẫn chơi tiếp và do mất bình tĩnh đã phạm sai lầm quyết định dẫn đến Đen thắng 5 mục. Điều đáng nói là ai chơi cờ Vây đều biết rằng sau này người ta đã thống nhất về komi – lượng mục Đen phải chấp trắng do được ưu tiên đi trước, khởi nguồn thì komi được tính =5,5 và gần đây đã tăng lên 7,5. Dù ở mức nào thì nếu tính như luật cờ hiện đại, Otake là người thua. Thậm chí sau tất cả những chuyện đó, đúng ra Otake vẫn là người thua. Tuy nhiên năm 1938 người ta chưa có luật komi, và trận thua này của Honinbo Shusai cũng là ván cờ cuối cùng trong cuộc đời ông. Sau trận đó ông không còn là chính mình, ông trở thành một ông già lão suy bình thường như bao ông già khác, và chết không lâu sau đó.

Bản nhân phường Shusai và sự thua cuộc của ông là nơi mà Kawabata muốn gửi gắm nỗi buồn của mình : sự thua cuộc của nước Nhật trong thế chiến thứ hai, sự suy tàn của truyền thống, của nghệ thuật, sự dấn tới lì lợm của những quan niệm và lối sống hiện đại mà Kawabata không muốn và không thể sống hạnh phúc trong nó. Meijin dường như là điếu văn cho một nước Nhật mà ông vẫn yêu bằng những rung động tinh tế mà sâu lắng. Nước Nhật của Kawabata là nước Nhật khi mà cô gái mười bẩy tuổi đếm những bông hoa lan màu tím nở trên gốc cây cổ thụ trong vườn, còn nước Nhật của hiện thực là nước Nhật của shinkansen, của sự chuyên nghiệp, tiết kiệm từng giây phút. Không khó để hiểu người như Kawabata sẽ không thể hạnh phúc trong nước Nhật mới này.

Không tuyệt đối như câu chuyện của Kawabata, hiện thực cho ta một gam màu xám hơn nhiều : Honinbo Shusai đúng là một kỳ nhân, nhưng ông lại không phải là người chơi cờ vây vĩ đại nhất thế kỷ 20 của Nhật. Vinh dự đó thuộc về Go Seigen, một thiên tài cờ Vây gốc Hoa. Cái chết của Shusai chẳng phải là kết thúc của truyền thống. Người thắng cuộc, Kitani Minoru, đồng thời là bạn thân của Go Seigen, là một nhà giáo dục cờ Vây vĩ đại, và không có gì là quá “hiện đại” ở trong ông. Nhưng dù sao thì thời đại mới, với tất cả những ưu điểm và khiếm khuyết của nó, là không thể tránh khỏi. Câu chuyện về Kỳ nhân là đoản khúc tiễn biệt mà Kawabata tự viết cho mình.

Đoạn trích

Dù sao Gringoire cũng không cho cô có thời giờ trở lại mơ mộng. Chàng tế nhị dò hỏi :

-Thế ra cô không muốn coi tôi là chồng hay sao ?

Cô gái nhìn chàng chằm chằm và đáp :

-Không.

-Thế là tình nhân được không ? Gringoire hỏi.

-Không.

Gringoire vẫn cứ hỏi tiếp.

-Vậy phải như thế nào mới làm đẹp lòng cô ?

-Phải là nam nhi.

-Thế tôi, tôi là gì ? Chàng hỏi.

Nam nhi phải đầu đội mũ, tay cầm gươm đi giày có đinh thúc ngựa bằng vàng.

:))))))))

Houellebecq’s aging

Tôi tuyệt đối không hề hạnh phúc trong đời, theo bất kỳ quan điểm nào, nhưng ít nhất tôi cũng từng có điều đó : tôi có thể, ở những quãng cách đều đặn, mua một đôi giày loại tôi thích… Thế nhưng niềm vui này, cái niềm vui giản đơn này, người ta cũng không để lại cho tôi. – Ông ta bắt đầu khóc…” – Houellebecq, Bản đồ và vùng đất.

Houellebecq là một tác giả tôi yêu thích ở mức vừa phải. Mặc dù danh tiếng của ông đã lớn và được coi như tác giả người pháp lớn nhất trong nhiều năm trở lại đây, tôi thấy ông không thật sự là quá xuất sắc. Đặc biệt, tất nhiên, nhưng không lớn, lớn ở đây theo nghĩa như những bậc thầy thời trước Marquez, Hemingway, Gorki, thậm chí không lớn được như Kundera hoặc Murakami thời trẻ. Một điều lạ, bởi đọc văn ông, tôi thấy nhiều điểm tương đồng về mặt quan niệm, và về tính cách cá nhân.

Các tác phẩm đã đọc là Hạt cơ bản, Mở rộng phạm vi đấu tranh, Platform, The possibility of an island. Hai cuốn sau đọc bằng tiếng anh. Houellebecq không phải là người viết đa dạng, cả bốn quyển trên đều tương đồng, thường có chung một dạng nhân vật chính. Nếu biết cách bỏ qua những đoạn văn “kể lể về chuyên ngành” rất đặc trưng và khó hiểu, vô nghĩa của Houellebecq thì truyện của ông trở nên đơn giản, tuyến tính, không khó đọc chút nào.

Tác phẩm tôi mới đọc, Bản đồ và vùng đất, theo lời của tác giả, là một tiểu thuyết nói về sự già đi, về quan hệ giữa cha và con, về khả năng biểu đạt hiện thực của nghệ thuật. Khi mua quyển này tôi giở ra xem ai dịch, thấy cái tên CVD ớn quá nhưng tôi nghĩ mình đủ quen với văn của Houellebecq để không bị những đoạn tối nghĩa và ngu chắc chắn sẽ đầy rẫy ảnh hưởng (và đúng là đầy rẫy, thật thảm hại). Cái title của entry này hơi dễ nhầm, tôi không muốn nói đến khía cạnh “già đi” trong tiểu thuyết, tôi muốn nói đến bản thân sự già đi của nhà văn, của Houellebecq. Bản đồ và vùng đất là một tiểu thuyết có âm hưởng khá giống những tiểu thuyết trước, nhưng buồn hơn, nhẫn nhục hơn. Nó có pha một lượng đáng kể sự khuất phục trong từng trang sách, có cảm giác nó được nói ra bởi một người trung niên sắp bước sang tuổi già, đã chạm cơ thể mình vào bức tường vô hình của những giới hạn cuộc đời. Kiểu như “phải, đúng là như thế, và cũng chẳng thể nào khác thế”. Nỗi niềm của một con người, của loài người, hay human condition, trong văn của Houellebecq khá giống với cách nhìn của tôi : sự cô độc, lòng nhân hậu hiếm hoi, những khoảng sáng của hạnh phúc vô cùng ngắn ngủi đứng cạnh cả một đại dương của nỗi buồn và những điều bất khả.

Ở đây, một ưu điểm lớn của Houellebecq cần được nhắc đến : ông không rẻ đi cùng với thời gian như nhiều tác giả khác. Như Murakami hoặc thậm chí là Marquez. Có thể nói ông có lòng tự trọng văn chương. Văn của ông vẫn như xưa, không có những yếu tố câu khách, (tuy quyển mới này yếu hơn những tác phẩm trước). Tôi nghĩ theo logic thì sẽ có rất ít người thực sự thích văn ông, có lẽ còn ít hơn số người thực sự thích trăm năm cô đơn. Thứ truyện gì toàn nói về những kẻ cô độc, hầu như không có quan hệ xã hội, đôi lúc lại vô cùng dâm đãng, ông nhiều lần đề cập đến sự vô nghĩa của quá trình tái tạo gen – đẻ con, truyện có rất nhiều vụ tự tử và các nhân vật luôn luôn trầm cảm. Ông kinh tởm sự tầm thường ngập ngụa như một tầm-thường-quyển mà con người phải sống trong nó, hàng ngày hàng giờ, hít thở nó, một thứ dụng cụ tra tấn hai tư trên hai tư. Nhân vật Houellebecq trong truyện tìm cách chạy trốn về nông thôn và hầu như không gặp gỡ người khác, những tưởng sống đời buồn thảm sẽ tránh được sự tầm thường. Nhưng không, nó đã tìm đến theo một cách khủng khiếp và cũng “đơn giản” nhất.

Một điểm trừ cho tiểu thuyết này : đoạn cuối của truyện nói về sự “diệt vong” của các thành thị trước “thảo mộc”. Tôi không hiểu Houellebecq nghĩ gì mà lại cho một đoạn hầu như giống hệt trong “Buồn nôn” làm đoạn kết.

—– 

Ps : mặc dù ai quan tâm có thể google ra một đống, có lẽ cũng nên cho vài đoạn thật “siêu việt” của “nhà blog học” CVD để vui cửa vui nhà :

Trang 284: “Tôi không biết liệu mình từng gặp, trong cái thế giới của những tham vọng ích kỷ này, cái nơi tôi sống, một đầu óc nào trống rỗng suy nghĩ về sự tốt đẹp chung như đầu óc ông ta. Tôi đã thấy ở đó một đám con người làm xáo trộn đất nước để được lớn lên : đó là sự băng hoại thường thấy; nhưng ông ta là người duy nhất, tôi nghĩ thế, mà tôi thấy lúc nào cũng sẵn sàng làm rối tung thế giới để giải trí.”

“Tôi cũng chưa bao giờ biết tới một đầu óc kém thành thực hơn, cũng như một đầu óc khinh bỉ hoàn toàn chân lý như thế. Khi nói ông ta khinh bỉ nó, tôi không hề nhầm lẫn; ông ta không vinh danh nó đủ để có thể đảm trách lấy nó dù là bằng cách thức nào”

 

Vũ Trọng Phụng

Hôm nọ buồn tình lại ra hiệu sách Nguyễn Xí. Không có gì ngạc nhiên khi thấy phần lớn là văn học rẻ tiền, bây giờ những cái tên như Dương Thụy hay Gào (?) gì đó đã thành quen thuộc bày đầy trên giá.  Loay hoay một lúc thế nào hiện ra trước mắt cái giá sách của các tác phẩm cũ. Thật sự mà nói, tôi không ưa văn học việt nam, một phần lớn là do công sức của bộ môn văn học ở trường. Một phần nữa, tư tưởng chủ đạo của đa số tác phẩm trước đây đã lỗi thời. Trong đống gáy sách xanh đỏ tím vàng, một cái tên đập vào mắt ngay : Vũ Trọng Phụng. Xuân tóc đỏ thì có bao giờ lỗi thời được ? Tôi mua hai quyển là Làm đĩ và Trúng số độc đắc.

Trúng số độc đắc có một mùi thật hay ho. Đấy là mùi của Kafka. Georg qua đêm biến thành con gián vì mất sức lao động thì anh Phúc cũng lột xác thành một người khác chỉ vì trúng số. Từ chỗ bị đối xử ngang với con chó, đùng một cái, anh trở nên một ông hoàng. Mười vạn đồng tiền biến anh thành một tượng thần và các con giời giữ những địa vị như bố, mẹ, vợ, bạn, họ hàng, quen thân, xa lạ quỳ mọp dưới chân anh. Anh nếu có nhổ xuống trúng vào mặt họ thì họ mỉm cười sung sướng vì đã được phú ông để ý, sẽ giương mặt lên hết cỡ xin được anh khạc nhổ nữa vào mặt họ, trong khi đó họ sẽ dõng dạc trần tình lý do tại sao cứt của anh thơm tho đến tuyệt vời. Anh vứt xuống giữa cái bãi ấy một bao tiền, sẽ có một cuộc tranh giành đẫm máu ngay. Mười vạn quan tiền làm anh trở nên thanh cao, nho nhã, có sức hấp dẫn lạ kỳ với phái nữ. Anh nuôi bồ nhí, vợ anh không ghen mà còn tự hào rằng chồng mình có đảm lược, biết ăn chơi. Nàng thơ trước kia từ chối anh phũ phàng bây giờ năng đến nhà anh chơi, trang điểm thật kỹ, nhìn anh thật bẽn lẽn, thẹn thùng.  Tất cả những điều đó như một con sóng thần khai sáng và tàn nhẫn ập lên đầu con người vốn nhân hậu và ưu tư là Phúc, trước tiên làm anh giận dữ, rồi sau đó làm anh mãi mãi lộn mửa, buồn nôn.

Cơn lộn mửa mà chẳng phải chỉ có Kafka và Vũ Trọng Phụng mới có, ai có lương tri và óc quan sát đều có thể thấy những ví dụ tương tự. Tôi cũng đã trải qua những câu chuyện chả khác gì, thậm chí xảy ra với chính bản thân tôi.

Có thể gọi Trúng số độc đắc là phiên bản Hóa thân của Việt nam. Cả hai đều mượn những sự kiện hy hữu – Georg hóa gián, Phúc giàu đột ngột – để làm một cuộc đại phẫu thuật lột bỏ những cái gọi là tình cha con, mẹ con, anh em, bạn bè, vợ chồng, yêu đương trong xã hội tư bản. Không hẳn là trong xã hội tư bản thì những cái đó không tồn tại, nhưng, đã gọi là tư bản thì yếu tố tiên quyết là thặng dư, dạng hình chủ yếu nhất của thặng dư là tiền. Tiền là khởi nguồn, là thứ đứng đằng sau, chi phối tất cả những thứ khác. Đơn giản và rõ ràng. Vô nhân đạo.

Cái tôi thích nhất ở Vũ Trọng Phụng không phải là sự mỉa mai sâu cay, mà là sự sáng suốt trong suy nghĩ của ông. Cái sáng suốt dễ nhận thấy ở những người luôn luôn biết nghi vấn để phân tích, nhìn sự việc ở tất cả những góc độ có thể. Một người biết hỏi “tại sao” rồi tự mình trả lời, không bị ảnh hưởng của phong trào, của sự dễ dãi, của nhu cầu muốn có nhiều người thích văn mình. Cái cảm nhận rõ rệt, trong sáng về lẽ phải. Lẽ phải duy nhất. Lẽ phải không chịu thỏa hiệp, không thể bị tầm thường hóa.

Lại đến mùa đông

 

“I thought what I’d do was, I’d pretend I was one of those deaf-mutes, or should I ?” – The laughing man, GitS.

 

Hôm nay trời bắt đầu trở lạnh, cái rét đến muộn. Cái lạnh làm người ta đa cảm hơn, có lẽ thế, và làm nỗi cô đơn trở nên sắc ngọt. Nhất là khi bạn đã ý thức được đầy đủ những giới hạn của cuộc đời mình.

Tự nhiên tôi lại nhớ một buổi tập thể dục hồi cấp 2, trường tôi gần hồ Hale nên thầy giáo dẫn cả lớp ra đó tập chạy, sau đó xếp hàng đi về trường. Hồi ấy trẻ con, chưa phải là hám gái lắm, thế nào mà tôi và một thằng bạn (tôi vẫn nhớ tên nó là T.T.) lại nói chuyện về cô bạn xinh nhất trong lớp. Nó phát biểu một câu làm tôi shock : nếu được chơi em ý một lần thì sau đó chết cũng đáng. Tôi thời thiếu niên bị sốc vì bất ngờ khi nghe một câu suồng sã thô bỉ như thế, khi cái cảm giác đó qua đi, tôi nhìn thằng bạn kia và sốc lần nữa vì nhận ra cái sự thật buồn bã đằng sau sự suồng sã : bằng cách nào đó, có lẽ phần lớn là bản năng, nó đã vô thức hiểu ra rằng sẽ rất nhanh chóng mà nó và cô bé kia tiến vào hai vùng khác nhau của cuộc đời, hai vùng không có sự giao thoa. Nó học dốt, nhà nghèo và xấu trai. Cô bé kia là cán sự môn văn, nhà giàu và sẽ trở thành một gái đẹp. Có lẽ cơn sốc của tôi lúc ấy chính là thời điểm đầu tiên một trong những giới hạn của cuộc đời lộ mặt. Tôi nhìn nó và nghĩ đến mình. Tôi là cán sự môn toán, nhà không nghèo và tôi không xấu trai. Tôi thích cô bé đó và có lẽ cô bé đó cũng có phần nào thích tôi, tuy chưa bên nào nói ra. Tôi muốn ngủ với cô bé ấy chết đi được. Vậy mà trong thâm tâm, tôi cũng đã hoàn toàn hiểu ra rằng điều đó là bất khả. Tôi nhìn tạo vật thiên nhiên xinh đẹp đó và thấy ý thức về sắc đẹp bản thân nơi cô ngày càng lớn. Tôi đọc những bài văn được 8,9 điểm của cô với chữ nắn nót mà không hiểu nổi tại sao tôi lại chỉ được 6,7. Tôi đọc sách nhiều hơn cô nhiều, tôi đã bắt đầu cô đơn, cơ thể tôi chắc bắt đầu có mùi của sự ưu tư nó khiến những kẻ xung quanh ngờ ngợ và cẩn trọng, tôi tự hỏi cô có bao giờ cô đơn ? Tôi yêu văn học, thứ văn học hoàn toàn khác môn văn của cô bé ấy. Rồi thì chúng tôi tốt nghiệp vào vào cấp 3, học ở hai trường cách xa nhau. Vì những lý do kỳ quặc nào đó hoặc do tôi quá nhạy cảm, tôi cảm thấy cô bé từ lúc nào đã hơi coi thường tôi, và thật buồn rằng tôi cũng vậy. Sau đó mọi sự diễn ra đúng như dự kiến : cô bé lớn lên, xinh đẹp, con đường cô đi trải thảm hồng, cuộc sống của cô đầy đủ và dễ dàng. Còn cuộc đời tôi hoàn toàn khác, đầy rẫy thăng trầm. Năm tháng lại qua đi và tất cả đều xoay chuyển. Đến bây giờ nếu có gặp lại thì cô cũng không còn hấp dẫn được tôi, kể cả về nhục thể : cô đã trở nên quá béo, giống anh chồng lùn béo của cô. Đã gần hai mươi năm rồi, tôi muốn trả lời T.T. : không đáng đâu.

Không đáng, bởi vì cuộc sống vẫn tiếp tục. Không phải ngày mai trời lại sáng, chỉ đơn giản là vì ngày mai sẽ đến, bấp chấp những nỗi niềm của riêng bạn, thậm chí cả sự tồn tại của bạn. Gần đây tình cờ thế nào mà tôi lại được đọc những hai quyển sách hay về điều này : Conversation in the Cathedral (trò chuyện trong quán Cathedral) và Rabbit Redux (tập tiếp theo của Rabbit, run). Zavalita và Rabbit có một điểm chung : các anh đi đến đoạn cuối của một thời kỳ trong cuộc đời mình, không còn gì cả, không còn hy vọng. Không còn những cuộc phiêu lưu, không còn những khát khao muốn làm một điều gì vĩ đại, không còn nhu cầu được hiểu và cảm thông. Không còn cả ham muốn nhục dục, áp phe tình ái. Không có gì để tự hào, những kỷ niệm trở nên quá đát. Cái còn lại từ ngày hôm nay, lặp đi lặp lại mãi, lát đầy con đường tương lai với cái đích là sự già nua và cái chết, chỉ là những mụ mẫm của sinh hoạt thông thường, công việc tám tiếng một ngày, một vợ, một con, theo dõi tình hình tài chính cá nhân, lấy nó để làm xẹp nỗi cô đơn. Thú thực là khi đọc đến đoạn cuối của Rabbit, run, tôi phần nào chờ đợi một vụ tự tử. Nhưng Rabbit không chết, anh sống tiếp, thậm chí còn sống hơn trung bình một tí trong tập sau : vẫn có những điều mới mẻ để trải nghiệm, ma túy, đàn bà, những nhận thức mới, sống để thấy những cuộc chiến lại xảy ra, những phong trào văn hóa mới, con người đã đặt chân lên mặt trăng. Cuộc đời này có đáng sống không ? Không đáng đâu. Thế có đáng chết không ? Lại càng không đáng. Đời chỉ là đời mà thôi. Tôi đã từng rất thích Rừng na-uy, sau đó hãy xem Murakami viết ra những cái thứ gì, và cả cái bộ phim ngu xuẩn đó. Lâu lâu tôi ghé lại mấy hàng sách gần hồ gươm, tôi không mua được quyển nào, toàn là rác rưởi mượn tên văn học, phần lớn là của tàu. Văn học và thị trường vốn không thể sống chung. Hiện giờ văn học đang chết. Nó sẽ hồi sinh khi chủ nghĩa tư bản suy tàn, tại một thời điểm nào đó trong tương lai. Đôi khi tôi đọc lại những tác phẩm kinh điển và thấy chúng đã lỗi thời, không thể tiêu hóa nổi, ví dụ như Anh em nhà Karamazov. Và không thể cứ đọc đi đọc lại Hemingway, Marquez, Faulkner, Allende, Eliot… Và sự viết ? Không có ai để viết cho. Không có gì đẹp để kể lại. Chụp ảnh những số phận nông cạn và vật chất, những mảnh đời nhạt nhẽo và tầm thường, những cái tôi được sản xuất hàng loạt để làm gì ? Nếu chỉ thế thì cứ ra đường là thấy, đâu cần văn học. Tôi nghĩ Raymond Carver có tài, mặt khác tôi nghĩ những thứ ông viết ra vô ích. Hoặc ngay cả Người Dublin chăng nữa. Còn tôi ? chỉ là tôi cũng không tin vào vô ngôn, ngậm miệng lại mà sống, không tin vào sự tối giản, hoặc cụm từ mỹ miều “vẽ mây nẩy trăng”. Thôi thì viết cho xẹp nỗi cô đơn, nhất là những lúc trời trở lạnh.

Forgetting who we are

 

“bà muốn nói chúng ta có nhiều từ hơn mình cần chăng ? Tôi muốn nói chúng ta có quá ít cảm xúc, hay chúng ta có nó nhưng đã ngưng dùng các từ diễn tả nó. Và vì thế chúng ta đã mất nó.””nhà văn cũng như mọi người khác, anh ta không thể biết mọi thứ, anh ta phải hỏi và tưởng tượng” – trích Mù lòa, Jose Saramago (1995).

Và bởi vì thời kỳ này không còn chỗ cho sự tưởng tượng nữa, nhà văn không còn cần thiết. Văn học sẽ trở thành thứ nghệ thuật đã mất. Những người từng sống trong thời kỳ có văn học sẽ nhớ về nó như một kỷ niệm, cũng như khi họ nhớ về tình yêu, hay về sự tự do. Đấy là giả sử họ đã từng biết đến những thứ đó.

Koto và những điều đã mất

 

Đọc xong Cố đô và đứng lên cân điện tử. Cân chỉ 58kg. Tôi đã giảm được 7 cân trong chưa đầy một tháng.

Hai sự việc tưởng như chẳng liên quan. Nhưng bằng cách nào đó, tôi hiểu chúng song hành chặt chẽ. Tôi vốn rất ít quan tâm đến ngoại hình của mình, dù vậy đứng trước cái gương hôm nay, tôi không khỏi thấy dễ chịu với hình ảnh của mình trong gương hơn hẳn. Tôi đã từng nặng 58kg vào thời kì đói khát và đơn độc nhất của mình. Và nghĩ lại thì có lẽ đó cũng là thời kì tôi cảm thấy trong sạch nhất. Hồi đó tôi từng sử dụng nickname Vô địch nhịn ăn trong một forum, lấy từ tên một truyện ngắn của Kafka.

Chuyện kể về một người nghệ sĩ của nghệ thuật nhịn ăn. Một môn từng khá được trọng vọng trong quá khứ. Anh biểu diễn trong một gánh xiếc. Anh nằm trong một cái cũi lớn, cách li với bên ngoài, luôn luôn có nhiều khán giả canh gác ngày lẫn đêm. Anh không ăn gì cả, chỉ thỉnh thoảng uống nước lã. Người ta đánh dấu những ngày nhịn ăn của anh và khi con số đó lên cao cũng là lúc dân tình đến xem đông. Họ tò mò xem bao giờ thì anh chết. Những người láu cá hơn thì phân tích xem người khác tuồn thức ăn vào cho anh như thế nào. Thông thường thì sau một thời gian đủ lâu, người ta lôi anh ra khỏi cũi và khán giả kinh ngạc thấy cái cơ thể trơ xương nằm đờ kia vẫn chưa chết. Cho đến một lần anh quyết định theo đuổi nghệ thuật của mình đến cùng. Anh không hiểu sao người ta không hiểu rằng nhịn ăn thật ra rất đơn giản, chỉ cần kiểm soát cơ thể mình tốt và ngủ thật nhiều. Có lẽ họ chưa từng bị đói. Anh thì tin anh có thể nhịn ăn bao lâu cũng được. Khi đến hạn ra khỏi cũi, anh ra hiệu cho người phụ tá cứ kệ anh. Lúc đầu người xem phấn khích vì có lẽ lần này anh sẽ chết thật, vé bán hết sạch. Nhưng ngày qua ngày, tuy trông anh nằm lặng như một thi thể, anh vẫn không chết. Dần dà người xem chán, họ nghĩ mình bị lừa và tin rằng chắc hẳn những người trong đoàn xiếc có cách nào đó để tuồn thức ăn vào cho người nghệ sĩ. Cùng lúc đó đoàn mới nhập về một con đà điểu châu phi. Trẻ con rất thích nó và một hai ngày sau thì mọi người đã quên hẳn anh. Anh nằm trong một góc cái cũi, người bị rơm rạ lấp lên quá nửa, ngủ thiêm thiếp cả ngày. Những lúc anh tỉnh, anh biết ngay cả những người trong đoàn xiếc cũng đã quên anh. Nhưng anh thích điều anh làm, trong thâm tâm, anh thấy thỏa mãn. Anh tò mò tự hỏi mình sẽ theo đuổi được đến lúc nào. Cái đó rốt cuộc chỉ mình anh biết. Sau đó rất lâu, một hôm người quản lý hỏi nhân viên tại sao trong đoàn lại có một cái cũi bẩn thỉu đầy rơm thế kia, người ta mới đi dọn và tìm thấy cái xác của anh.

Tất nhiên, chuyện tôi giảm cân và thứ nghệ thuật nhịn ăn phi thực này không liên quan trực tiếp. Đơn giản là tôi cảm thấy khi tôi béo, ngoài chuyện bụng tôi to đùng và hai bên má phình ra khiến tôi có vẻ gì dư dả và đần độn như hình ảnh đặc trưng của nhiều kẻ có cuộc sống đầy đủ ở tuổi ba mươi, tôi thực sự là có đần độn đi. Bụng đầy thì óc rỗng, câu này quá đúng. Tôi không thích như thế.

Tôi nhớ lần đầu đọc được một đoạn của Cố đô trong sách giáo khoa văn, tôi thích lắm. Thế mà không tìm đâu được cả truyện. Gần đây tôi mua được sách tiếng anh, háo hức xem. Bất ngờ là tôi đọc không vào. Nhiều tháng trôi qua, quyển sách với tấm bìa hoa anh đào màu hồng nhạt vẫn nằm đó. Mỗi lần tôi cầm nó lên, tôi chỉ đọc được rất ít trang. Rồi câu chữ như nhòa đi, khi thì tôi buồn ngủ, khi thì tôi nghĩ đến một điều gì khác, những người nào khác, khác hơn những người trong truyện. Những câu chuyện rẻ và thường.

Có lẽ là vì những điều diễn ra trong truyện cứ như là diễn ra trong một hành tinh khác, không phải hành tinh tôi đang sống. Miền đất của những ngôi nhà gỗ dán giấy cổ xưa, những khu vườn xinh xắn, những lễ hội tinh tế và nên thơ. Những con người sống trong nó có gì trong sạch và cao quý đến mức khiến tôi đau lòng. Nhịp sống của họ chậm và tràn đầy những rung cảm nội tâm được lắng nghe một cách đầy trân trọng. Và tôi không còn liên hệ bản thân mình tới họ được nữa. Không còn điểm gì chung. Chieko mải mê ngắm hai cụm hoa violet mọc lệch trên cội thông phủ đầy rêu ở trong vườn, nghĩ chúng không bao giờ đến được với nhau. Cô đi bộ xuyên qua cả Kyoto chỉ để đúng 5h chiều có mặt trên một đỉnh núi để ngắm mặt trời lặn. Hideo ngắm những ngọn núi tuyết tùng và thông đỏ hàng giờ, trong lòng dần hiện lên một mẫu thiết kế obi và cả một lời cầu hôn. Naeko sống trong vùng núi, lao động cực nhọc, một lần đến và được nói chuyện một lát và nằm ngủ cùng cô em sinh đôi đã là quá hạnh phúc đối với cô. Còn tôi ? Tôi chỉ còn nhìn thấy bê-tông, ngày này qua tháng khác. Nó ở khắp nơi, ngay cả trên những con sóng vỗ bờ. Và cả những con bồ câu thành phố, béo nứt, bệnh hoạn vì ăn toàn rác rưởi. Khi soi gương, tôi thấy tôi cũng chả hơn gì chúng.

Giờ, gầy đi rồi, khỏe hơn rồi, tôi lại có thể cầm Koto của Kawabata lên. Tôi vẫn chưa cảm nhận được văn ông qua tiếng anh như khi đọc bằng tiếng việt, nhưng tôi đã đọc được liền năm mươi trang. Hai đêm để đóng lại một tác phẩm bậc thầy, như sương, như hoa, lùi ra xa mà ngắm thì lại như một bài thơ dang dở. Tôi thấy có một chuyện thật đáng buồn, đấy là những người trẻ tuổi hiện nay phải tiếp xúc với một thị trường có quá nhiều sách dở, trong khi sách hay thật ra là thừa đủ để đọc cả đời.